Chúa Nhật 25 Thường Niên

BẢN TIN GIÁO LÝ
CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN
 
LỜI CHÚA
BÀI ĐỌC I:  Is 55, 6-9
"Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi".

BÀI ĐỌC II:  Pl 1, 20c-24. 27a
"Đối với tôi, sống là Đức Kitô"      
 
PHÚC ÂM: Mt 20, 1-16a
"Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: "Nước trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thoả thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông. Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, ông bảo họ rằng: "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng". Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy.
Đến khoảng giờ thứ mười một ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng: "Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?" Họ thưa rằng: "Vì không có ai thuê chúng tôi". Ông bảo họ rằng: "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta".
Đến chiều chủ vườn nho bảo người quản lý rằng: "Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ, từ người đến sau hết tới người đến trước hết." Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng.
Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn, nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng. Đang khi lãnh liền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng: "Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao"? Chủ nhà trả lời với một kẻ trong nhóm họ rằng: "Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thoả thuận với tôi một đồng sao?" Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn, nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng? Như thế, kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết".
Đó là lời Chúa.
 

SUY NIỆM
 
Suốt thời gian sống ở trần gian, Chúa Giêsu đã không ngừng giảng dạy, giải đáp thắc mắc của nhiều người, kể cả các môn đệ, các Tông đồ là những người thân tín của Chúa Giêsu, và đưa ra các quan điểm làm thay đổi giá trị nhân sinh: một trong dụ ngôn hôm nay chúng ta được đọc cho thấy quan điểm khác lạc, tuyệt vời của Chúa Giêsu “Ông Chủ Vườn Nho”. Ở đây, chúng ta có thể xem đó là câu trả lời của Chúa Giêsu cho thánh Phêrô về câu hỏi phần thưởng cho những kẻ đã bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu. Chính vì vậy, dụ ngôn này hình như có lý để nói với các Tông đồ trước khi trải rộng đến các người Pharisêu, Biệt phái, Kinh sư, Luật sĩ, những kẻ thu thuế, người tội lỗi, Dân Do Thái và dân ngoại…
Như ông chủ vườn nho quảng đại, rộng rãi thương xót mọi người, đã ra các ngã đường mời gọi họ vào làm vườn nho, và trả lương rộng lượng với người này mà vẫn công bằng với người khác. Thiên Chúa cũng thế luôn trải rộng tình thương đến với mọi người mà không đếm xỉa đến sự suy tính theo kiểu người đời vì Chúa rất mực khoan dung, nhân hậu. Đây là một dụ ngôn, chứ không phải là ngụ ngôn. Do đó, ý tưởng nhắm vào ông chủ là Thiên Chúa hơn là các nhóm thợ làm vườn, và các chi tiết khác vốn được hiểu nhiều cách rất khác nhau. Thiên Chúa dùng hình ảnh vườn nho là hình ảnh rất thông dụng trong Kinh Thánh, chỉ về công việc của Thiên Chúa trong thế giới, trong thế gian, và đặc biệt nói về dân Do Thái. Một quan tiền mà ông chủ trả cho mỗi người làm việc trong một ngày. Người Do Thái xưa tính giờ: giờ thứ nhất, 3, 6, 9, 11 tương đương với 6, 9 giờ sáng, 12 giờ trưa, 15 và 17 giờ chiều. Nên, ngày làm việc của một người chấm dứt vào lúc 18 giờ chiều. Ông chủ rất rộng lượng, công bằng vì ông chủ đã thỏa thuận với tất cả những người làm việc trong vườn nho. Bởi vì ông và những người làm việc đã thỏa thuận sòng phẳng, tiền công là một quan tiền dẫu làm việc từ sáng hay làm vào buổi chiều. Ông chủ luôn xử công bằng với mọi người vì ông và những nhóm thợ đã thỏa thuận, giao kèo, giao ước với nhau là công nhật một ngày là một đồng. Ông chủ không xử bất công với thợ. Ông đã gọi họ làm đã giao kết, hứa, thỏa thuận với thợ là một quan tiền. Ông chủ rất công bằng trả lương để thợ có tiền nuôi sống bản thân và gia đình. Đây là ông chủ công bằng, rộng rãi không gây thiệt hại cho ai mà vẫn quảng đại với nhiều người. Đây cũng là câu trả lời cho thánh Phêrô và các bạn khi ông hỏi Chúa Giêsu rằng các ông đã bỏ mọi sự mà theo Ngài, các ông sẽ được gì? Thực tế, công việc của con người chỉ là gợi ý, việc trả công của Thiên Chúa vượt quá sự suy tính của con người. Nước Thiên Chúa không giống như sự hạch toán kinh tế, làm ăn của con người, mà là rộng lượng, quảng đại “công chính, bình an và hoan lạc trong Chúa Thánh Thần” (Rm 14, 17).
Bài Tin Mừng và các bài đọc hôm nay làm đảo lộn cái nhìn của con người: vị kỷ, ghen tương, tính toán, so đo… Do đó, nó đòi hỏi con người phải thay đổi tư duy, cách làm, cách nghĩ, đổi mới từ ngữ, cách cư xử của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Thiên Chúa là Đấng nhân hậu, từ bi,thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân. Thiên Chúa luôn đối xử với con người,với mọi người với tấm lòng yêu mến thiết tha. Nên, chúng ta phải đối xử với anh em, với tha nhân trong tương quan tình yêu chứ không phải ganh tị chỉ muốn hơn kém người.Tương quan của chúng ta đối với Thiên Chúa là tương quan siêu nhiên, ân sủng không chỉ dựa vào việc làm, công phúc của con người mà dựa vào tình thương vì Thiên Chúa chính là Tình Thương (1 Ga 4, 8). Chính vì thế, Thiên Chúa muốn chúng ta xử sự với nhau như Thiên Chúa đã xử sự với chúng ta chứ không không chỉ dựa trên kinh tế, giờ làm việc, năng xuất vv…
Xin mượn lời của Nữ tu Emmanuelle Billoteau, ẩn sĩ Dòng Biển Đức để kết luận bài chia sẻ hôm nay: “Như mọi dụ ngôn, du ngôn Chúa nhật này nhằm mục đích buộc chúng ta có lập trường. Đến phiên chúng ta phải chọn! Hoặc là bám vào những quan điểm đã có sẵn mà đó nghiễm nhiên là quan điểm của những người thợ của giờ đầu tiên, hoặc là mở lòng ra học đi theo đường lối của Thiên Chúa, mà “tư tưởng và đường lối của Người không phải là tư tưởng và đường lối của chúng ta” (Is 55, 8). Một lối hành xử lạ thường đáng cho chúng ta lo ngại, nếu trong đức tin, chúng ta không biết động cơ nơi Thiên Chúa là lòng nhân ái chứ không phải là ý chí võ đoán: “Chẳng lẽ vì tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức ?”. Không phải để bóp nghẹt nơi chúng ta trực cảm bẩm sinh về lẽ công bình. Vì chẳng phải nhờ nó mà trong lịch sử nhân loại đã có những bước tiến đầy ý nghĩa tới một thế giới công bình hơn đó sao? Đức công bình chẳng phải là một trong những thuộc tính của Thiên Chúa, như chúng ta nghe nhắc tới trong các câu cho thấy vị chủ vườn nho tôn trọng hợp đồng trả lương công nhật là một quan tiền đó sao? Thế nhưng trực cảm về công bình cũng có thể là một cạm bẫy nếu nó trở thành điểm qui chiếu duy nhất, khiến chúng ta cứ đem so sánh, ganh đua liếc mắt ghen ghét, đóng cửa lòng mình lại với tha nhân, thậm chí muốn khai trừ họ khỏi gia nghiệp Thiên Chúa hứa ban, Đấng “cao cả hơn lòng chúng ta”.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một đức tin mạnh mẽ để chúng con biết nhìn ra Đấng luôn yêu thương, quảng đại đối với chúng con. Xin cho chúng con có cái nhìn rộng mở đối với Thiên Chúa và có sự suy nghĩ, có cái nhìn yêu thương đối với tha nhân. Amen.

 

Minh họa Lời Chúa
Thiên Chúa Công Bình
Một hôm Thiên Chúa đi vào thiên đàng. Ngài ngạc nhiên thấy tất cả những người chết đều được vào đó cả, không ai bị sa hỏa ngục. Ngài suy nghĩ phải chăng Ngài không phải là Đấng công bình vô cùng. Ngài gọi sứ thần Gáp-rien đến và bảo:
- Con hãy tập trung mọi người đến trước mặt Ta. Đọc cho họ nghe 10 giới răn của Ta.
Sứ thần đọc giới răn thứ nhất và Chúa phán bảo:
- Những kẻ nào phạm giới răn thứ nhất đó, hãy xéo khỏi mặt Ta, đi vào hỏa ngục ngay.
Một số người từ từ rời khỏi đám đông và buồn bã khóc lóc đi vào hỏa ngục. Và sứ thần đọc tiếp các giới răn khác, cứ sau mỗi giới răn đều có số người rời khỏi đám đông và than khóc đi xuống hỏa ngục. Sau cùng chỉ còn lại có một người, người đó là một ẩn sĩ già.
Thấy vậy, Thiên Chúa hỏi sứ thần:
- Chỉ có một người này được vào Thiên Đàng hay sao?
Nói xong, Ngài bảo sứ thần gọi đám đông lại và cho họ trở vào thiên đàng. Thấy đám đông tội lỗi xấu xa thế mà Chúa lại tha thứ cho trở lại thiên đàng, vị ẩn sĩ tức giận nói với Chúa:
- Chúa không phải là Đấng công bình!...
Thiên đàng chính là ngôi nhà của tha thứ, của quảng đại khoan dung. Tha thứ khoan dung của Thiên Chúa dành cho con người và tha thứ bao dung của con người dành cho nhau.
Thiên Chúa đã ví thiên đàng như một bữa tiệc, trong đó từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc mọi người không phân biệt màu da, chủng tộc, địa vị, giàu nghèo, nhất là không phân biệt bạn thù đều đồng bàn với nhau. Thiên đàng ấy không chỉ ở đời sau mà bắt đầu ngay tại đời này. Mỗi khi con người biết tha thứ nhân hậu với nhau, mỗi khi họ chấp nhận đồng hành với nhau, sống khoan dung rộng lượng với nhau là lúc thiên đàng được rộng mở...
Chúa Giêsu đã mở cửa thiên đàng đó cho những người làm vườn nho trong Tin Mừng hôm nay. Những người sau chót chỉ làm có một giờ, thế mà Chúa cũng cho họ vào thiên đàng như những kẻ đã làm việc nặng nhọc cả ngày. Như thế làm sao khỏi bị ganh tức.
Nhưng Chúa Giêsu còn mở cửa thiên đàng khi Người đồng bàn với những người thu thuế, những người tội lỗi, những người bị xã hội loại bỏ, và nhất là khi Người tha thứ cho những kẻ đã giết treo Người trên thập giá. Vì ngôn sứ Isaia đã xác quyết: "Trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi bấy nhiêu" (Is. 55,9)
(Theo "Phút cầu nguyện cuối ngày, tập III).
 
Mỗi tuần 1 vị thánh
Thánh Matthêu

 
Mátthêu là người Do Thái làm việc cho đạo quân xâm lăng La Mã, thu thuế của những người đồng hương Do Thái. Mặc dù người La Mã có lẽ không cho phép moi tiền của người chịu thuế một cách quá đáng, nhưng điều họ quan tâm vẫn là hầu bao của mình nên họ thường làm ngơ về những hành động của "người thầu thuế". Do đó sau này, những người thu thuế thường bị khinh miệt như người phản bội dân Do Thái. Người Pharisiêu coi họ là hạng "tội lỗi." Bởi thế, thật bàng hoàng khi Ðức Kitô gọi một người như vậy để trở nên môn đệ của Người.
Mátthêu lại làm Ðức Kitô thêm khó khăn khi tổ chức một bữa tiệc tiễn biệt tại nhà của ông. Phúc Âm kể cho chúng ta biết "nhiều người thu thuế" và "những người nổi tiếng tội lỗi" đã đến dự tiệc. Người Pharisiêu lại càng thêm khó chịu. Một người được cho là vị thầy vĩ đại lại có liên hệ gì với hạng người vô luân đó? Câu trả lời của Ðức Kitô là, "Người khỏe mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu. Hãy tìm hiểu ý nghĩa của câu, 'Ta muốn lòng thương xót, chứ không phải của lễ.' Tôi không đến để kêu gọi người công chính, nhưng là người tội lỗi" (Mt. 9:12b-13). Ðức Kitô không gạt vấn đề thờ phượng và nghi lễ sang một bên; Người chỉ nói rằng việc yêu thương tha nhân thì quan trọng hơn.
Trong Tân Ước không còn đoạn nào nói về Matthêu.
 
GƯƠNG SÁNG
THẾ GIỚI LẦN HẠT MÂN CÔI LÀ THẾ GIỚI HÒA BÌNH!
 
- Thưa Cha, con thật hạnh phúc. Mỗi tối con cầu nguyện cùng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Mân Côi. Trọn gia đình cùng cầu nguyện với con.
Nhờ thế, nơi cõi đời ô-trọc này, vẫn còn trăm vạn niềm vui. Và con cảm thấy như Cha đang ở cạnh con, trong những giây phút này, khi con đọc kinh dâng lên Đức Nữ Trinh MARIA. Ngoài trời, các vì sao chớp-chớp, như đáp lại lời kinh con đọc. Các vì sao tỏa ánh sáng rạng ngời trên ngôi nhà con ở Nevada.
Ký tên,
Bing Crosby.
Vâng, đúng thế! Người viết mấy hàng trên đây chính là danh ca người Mỹ, Bing Crosby (1903-1977). Ông viết cho Cha Patrick Peyton (1909-1992), vị Linh Mục tông đồ của Tràng Chuỗi Mân Côi. Cha Patrick Peyton, thuộc dòng Thánh Giá và là người Ái-nhĩ-lan.
Giới hâm mộ ca nhạc không thể không biết đến danh ca Bing Crosby. Một trong những phim ca-vũ-nhạc nổi tiếng ”Các hồi chuông Thánh MARIA”, ông đóng chung với nữ tài tử (Thụy-Điển) Ingrid Bergman (1915-1982) và .. con mèo Rosy. Ngoài ra, hàng năm vào dịp lễ Giáng Sinh, giọng ca của Bing Crosby lại sống dậy trong bản White Christmas.
Bing Crosby - tên thật là Harry Lillis Crosby - chào đời ngày 3-5-1903 tại Tacoma thuộc thủ đô Washington, Hoa Kỳ. Harry là con thứ tư trong gia đình Công Giáo đạo đức có 7 người con. Lúc nhỏ, Harry cùng với cậu bạn hàng xóm tên Valentine Hobart say mê nhân vật trong tranh hoạt họa vẽ trên báo có tên ”Bingo”. Từ đó cậu bạn gọi Harry bằng tên ”Bingo”. Rồi ”Bingo” được gọi gọn là “Bing”. Và ”Bing” ở lại mãi mãi với tên Crosby, cả khi ông trở thành ca nghệ sĩ nổi tiếng và qua đời ngày 14-10-1977, hưởng thọ 74 tuổi.
Bing Crosby là ca sĩ đứng đắn, hết lòng yêu nghề. Ngoài việc được quần chúng hâm mộ tài nghệ, danh ca Bing Crosby còn được bạn hữu và đồng nghiệp kính trọng quý mến. Trong số các bạn thân có cô Loretta Young, một tín hữu Công Giáo vô cùng đạo đức.
Một ngày, Loretta đưa một người - dáng điệu trông giống chàng sành chơi bóng rổ, với mái tóc buông xõa trên vầng trán - đến gặp Bing và nói:
- Xin giới thiệu anh. Đây là vị Linh Mục Công Giáo, rơi từ thiên đàng xuống trần gian, cách đây vài ngày!
Chàng nghệ sĩ Bing Crosby nở nụ cười thật tươi và vui vẻ bắt tay vị Linh Mục. Chàng tỏ ra hân hạnh quen biết ngài. Sau đó, nơi phòng thu băng, Bing Crosby lắng tai nghe bạn hiền Loretta kể sơ lược tiểu sử vị Linh Mục Công Giáo.
Cha Patrick Peyton chào đời năm 1909, trong gia đình Công Giáo nghèo thật nghèo bên nước Ái-nhĩ-lan. Năm 18 tuổi, Patrick cùng với anh trai Tom sang Hoa Kỳ tìm kế sinh nhai. Nhưng rồi ơn Chúa gọi, Patrick từ giã anh, gia nhập chủng viện.
Lúc gần chịu chức Linh Mục, thầy Patrick bỗng lâm bệnh lao phổi trầm trọng. Các bác sĩ cho biết vô phương cứu chữa! Giấc mơ Linh Mục trong phút chốc tan thành mây khói .. Thầy Patrick chán nản buông tay bỏ cuộc. Nhưng rồi một vị Linh Mục lão thành xuất hiện. Cha nói với thầy:
- Hãy xin Đức Mẹ Maria chữa lành bệnh. Đức Mẹ là suối nguồn sự sống. Hãy tin tưởng nơi Người và yêu mến Người như Mẹ thật. Hãy kiên trì kêu xin Đức Mẹ và tin tưởng vững chắc Đức Mẹ sẽ chữa lành. Đức Mẹ sẽ tỏ ra vô cùng nhân hậu với thầy. Chính vì chúng ta tin tưởng quá ít nơi Đức Mẹ, nên Đức Mẹ không ban được cho chúng ta nhiều ơn!
Nghe vị Linh Mục lão thành nói thế, thầy Patrick bỗng nhớ lại chuỗi ngày niên thiếu, nơi quê hương Ái-nhĩ-lan thân yêu. Thầy cũng nhớ đến ”liều thuốc thần” mẹ thầy vẫn dùng trong cơn gian nan khốn khó. Đó là Tràng Chuỗi Mân Côi. Cứ chiều đến, cả gia đình tụ họp và cùng nhau sốt sắng lần chuỗi Mân Côi.
Giờ đây, vì hết hy vọng nơi các phương thuốc chữa trị trần gian, thầy Patrick hướng về Trời Cao và kêu van Người Mẹ Thiên quốc qua Tràng Chuỗi Mân Côi. Và thầy được lành bệnh thật.
Năm 1941 - 32 tuổi - thầy Patrick Peyton hân hoan lãnh nhận thiên chức Linh Mục. Từ đó Cha thâm tín rằng: Thế giới cầu nguyện là thế giới hòa bình và Gia đình cầu nguyện là gia đình hiệp nhất.
Trở lại cuộc gặp gỡ giữa danh ca Bing Crosby và Cha Patrick Peyton.
Hôm ấy, nơi phòng thu của Hollywood, Cha Patrick Peyton đơn sơ kể kinh nghiệm ơn gọi cho danh ca Bing Crosby và cô bạn Loretta nghe. Sau cùng Cha nói:
- Tôi đạt đến sự hiểu biết và yêu mến Đức Mẹ Maria là nhờ lần chuỗi Mân Côi. Chính tràng chuỗi Mân Côi dạy tôi phải đặt tin tưởng nơi Đức Mẹ Maria. Vì thế, để tỏ lòng ghi ơn Tràng chuỗi Mân Côi, tôi quyết định dâng hiến trọn đời tôi để cổ võ mọi người yêu thích việc lần chuỗi MÂN CÔI. Nếu mọi người đáp lời tôi kêu gọi, mỗi ngày dành ra thời gian ngắn, rồi cả gia đình cùng nhau lần hạt Mân Côi, thì tôi có thể bảo đảm với các gia đình ấy rằng: các tổ ấm đó sẽ trở thành vườn địa đàng!
Danh ca Bing Crosby chăm chú lắng nghe lời vị Linh Mục Công Giáo nói. Rồi bằng thái độ thật chân thành, chàng hỏi Cha Patrick:
- Thưa Cha, con rất thích câu chuyện Cha vừa kể. Cha có nghĩ là Đức Mẹ Mân Côi cũng thích nghe các bài con hát không?
Cha Patrick sung sướng trả lời: Tất cả đều tốt, một khi được thấm nhiễm tình yêu Thiên Chúa.
Như được ơn trên soi chiếu, danh ca Bing Crosby đi thẳng vào đề: Vậy thưa Cha, con phải bắt đầu từ đâu?
Cha Patrick đáp ngay: Từ đây!
Vừa nói, Cha vừa siết mạnh tay chàng danh ca và kín đáo bỏ vào lòng bàn tay chàng một tràng chuỗi Mân Côi nho nhỏ.
Bắt đầu từ ngày lịch sử ấy, cuộc đời danh ca Bing Crosby thấm nhuần tình yêu Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria, qua tràng chuỗi Mân Côi. Chàng và trọn gia đình chàng, nối gót theo Cha Patrick Peyton, vị tông đồ lừng danh của Tràng Chuỗi Mân Côi ..

TÌM HIỂU

TẠI SAO TA PHẢI ĐI DỰ THÁNH LỄ MỖI NGÀY?
‘Thánh Lễ là một thể thức cầu nguyện tuyệt hảo nhất!’
(Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI)
 
- Mỗi Thánh Lễ mà chúng ta tham dự với lòng sùng kính, Chúa sẽ ban cho chúng ta một vị Thánh để an ủi chúng ta trong giờ lâm tử.
(Chúa Giêsu mặc khải với Thánh Gertrude Cả)
- Thánh Padre Pio, một linh mục được mang dấu Thánh Chúa, nói rằng: “Mỗi Thánh Lễ chúng ta tham dự với lòng sốt mến sẽ tạo trong linh hồn chúng ta những hiệu quả kỳ diệu, những ân sủng tâm linh và vật chất dư đầy mà chúng ta không biết. Trái đất này có thể tồn tại dễ dàng nếu không có mặt trời hơn là không có Thánh Lễ”.
- Thánh Gioan Vianney nói: “Nếu chúng ta biết được giá trị của Thánh Lễ chúng ta có thể chết vì sung sướng”.
- Một tiến sĩ Hội Thánh, Thánh Anselmô tuyên bố rằng: “Một Thánh Lễ dâng cho một người khi họ còn sống thì đáng giá hơn gấp ngàn lần Thánh Lễ cùng ý chỉ đó dâng cho họ sau khi họ qua đời”.  Thánh Leonard của Port Maurice cũng đồng ý với câu đó đã nói rằng: “Một Thánh Lễ trước khi chết thì sinh nhiều ơn ích hơn là nhiều Thánh Lễ dâng sau khi chết”.
- “Thánh Lễ sẽ mang lạii nhiều ơn ích nếu người ta dâng lên khi họ còn sống hơn là Thánh Lễ dâng lên để cầu cho linh hồn họ khi họ đã qua đời”. 
(Ðức Giáo Hoàng Benedict XV)
- Một lần nọ, Thánh Theresa được tràn đày ơn Chúa, đã hỏi Chúa, “Con phải làm gì để cảm tạ Ngài?” 
Chúa đáp: “Hãy tham dự một Thánh Lễ”.
- Có một lần Ðức Mẹ nói với Alain một tôi tớ đầy trung thành: “Ðấng Con của Mẹ rất yêu mến những ai tham dự Hy Tế trong Thánh Lễ, nếu cần Ngài sẽ chết cho họ thêm bấy nhiêu lần mà họ đi tham dự Thánh Lễ”.
(Trang 107, đoạn cuối của ‘explication Du Saint Sacrifice De La Messe’ parle R.P. Martin de Cochem Friere - Mineur Capuchin).

 

Đính kèm: