Chúa Nhật 26 Thường Niên

BẢN TIN GIÁO LÝ
CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN

 

BÀI ĐỌC I:  Ed 18, 25-28
"Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, nó sẽ được sống".

BÀI ĐỌC II:   Pl 2, 1-5   hoặc 1-11
"Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Đức Giêsu Kitô".

PHÚC ÂM:  Mt 21, 28-32
"Nó hối hận và đi làm. Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Các ông nghĩ sao? Ngườikia có hai người con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: 'Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!' Nó thưa lại rằng: 'Con không đi'. Nhưng sau nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: 'Thưa cha, vâng, con đi'. Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?" Họ đáp: "Người con thứ nhất". Chúa Giêsu bảo họ: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài".
Đó là lời Chúa.

 

SUY NIỆM
Chúa Giêsu đã rao giảng Nước Thiên Chúa, Ngài muốn biến trần gian trở nên Nước Trời. Chính vì thế, Ngài đã mời gọi các Tông đồ, các Môn đệ đi theo Ngài để Ngài trao cho nhiệm vụ mở mang Nước Trời. Chúa muốn qui tụ, cứu độ mọi người. Ai đón nhận và tích cực thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, biến trần gian, thế giới trở nên Nước Thiên Chúa thì người ấy thuộc về Chúa, và là con cái của Ngài.
Hôm nay, Chúa Giêsu đem ra một dụ ngôn nữa để dạy dỗ các người Pharisêu, Kinh sư và Biệt phái, đồng thời cũng nói lên quan điểm, lập trường của Ngài về những người được cứu rỗi. Dụ ngôn này, được Chúa Giêsu đặt vấn đề theo thể văn đối thoại, đòi những người nghe phải trả lời, để một đàng gây chú ý hào hứng, vừa dễ dàng đánh đổ đối phương bằng phương pháp dĩ độc trị độc, gậy ông đập lưng ông (Mt 21:31). Điều này, trong Cựu Ước, chúng ta đã đọc thấy nơi sách 2 Samuen chương 12:1-14. Thực tế, hai người con, chúng ta đã đọc thấy trong dụ ngôn ‘người con hoang đàng’, ở đây được hiểu là dân Do Thái và dân ngoại giáo, tuy nhiên trong dụ ngôn này được hiểu về các thượng tế, luật sĩ, biệt phái, các người thu thuế, đàng điếm, tội lỗi. Tất cả đều bình đẳng trước Thiên Chúa và cùng được Chúa yêu thương mời gọi làm vườn nho cho Chúa. Giả sử, có sự phân biệt, bất bình đẳng bởi vì công việc của mỗi người sẽ làm đối với Lời Chúa mà thôi. Tin Mừng cho hay người con thứ nhất, Cha bảo nó đi làm, nó nói không đi nhưng sau hối hận, nghĩ lại rồi đi. Người con thứ nhất tượng trưng cho những người tội lỗi, lúc ban đầu đã không đi vào con đường ngay chính, con đường thật, sau hối cải, ân hận đi vào con đường ngay chính. Người con thứ vâng dạ ‘nói đi’, nhưng lại không đi. Người con này ám chỉ các chức sắc Do thái lúc đó, lúc đầu họ luôn trung thành vâng theo và đi vào con đường Cựu Ước. Nay, những lời Cựu Ước được thực hiện thì họ lại không đi vào. Điều quan trọng dụ ngôn này muốn dạy chúng ta là hành động, chứ không chỉ nói suông. Làm chứ không chỉ nói. Và như vậy, người con thứ nhất đã đạt được yêu cầu. Thánh Matthêu trong dụ ngôn này còn cho hay hai hạng người thu thuế và gái điếm, đều là những con người tội lỗi nhưng họ đều vào được Nước Trời vì họ đã hoán cải và tin. Tin Mừng cũng nói đến kẻ trước người sau không chỉ theo nghĩa thời gian nhưng còn là thay thế chiếm chỗ… Thánh Gioan Tẩy Giả vừa là người công chính, vừa là người thi hành sứ vụ giúp con người dọn lòng đón Đấng công chính. Gioan Tẩy Giả đã kêu gọi mọi người hoán cải vì Nước Chúa đã gần đến. Ngài đã cương quyết, mạnh mẽ cảnh giác những người biệt phái và bè Xađôc, nhưng họ đã không nghe ngài và cũng không chịu để ngài thanh tẩy.
Chúa Giêsu đã rất gắt gao với những người coi mình là đạo đức, thánh thiện, công chính bằng việc họ nói mà không làm. Điều này, chúng ta thấy rõ nơi người Pharisêu, Biệt phái, Kinh sư. Họ nói nhiều, giả hình, giả bộ, đạo mạo bề người, nhưng trong lòng đầy gian tà, đúng như Chúa nói: “mồ mả tô vôi”. Điều này cũng đang đúng với nhân loại ngày nay, khi mà có rất nhiều người nói một đàng làm một nẻo. Có những người chỉ mang danh Kitô nhưng thực ra họ không nghe, không thực thi Lời của Chúa. Chúa Giêsu đã có lần nói: “Không phải những ai nói ‘lạy Chúa, lạy Chúa’ là được vào Nước Trời nhưng họ còn phải thực thi Lời Chúa” (Mt 7:21). Chúa luôn nói với chúng ta: Hôm nay con đi làm vườn nho cho Ta… Đừng cứng lòng (Tv 94:7-8).
Xin mượn lời của Viện phụ Grégoire Zufferey để kết luận bài chia sẻ sáng nay: “Chỉ có người duy nhất nói tiếng vâng bằng miệng và nói cùng một tiếng vâng ấy bằng hành động của mình, bằng những cái nhìn của mình, bằng những tương quan luôn thấm đẫm sự thật và lòng tế nhị, bằng những lúc thinh lặng, bằng cả con người mình…Chỉ có một người duy nhất nói tiếng vâng bằng lời nói và việc làm của mình: đó là Đức Giêsu Kitô.
Người thưa: vâng, thưa Cha, con sẽ đi làm việc trong vườn nho của Cha dưới đất. Bằng cuộc nhập thể của Người, bằng cuộc sống và cái chết và sự phục sinh của Người, hành động của Người như là một tiếng xin vâng thường trực đối với ý Cha của Người. Về phần chúng ta, chúng ta thưa vâng với mệnh lệnh thánh hóa ngày Chúa nhật, ngày của Chúa… Đôi tay chúng ta tự động chắp lại để cầu nguyện, đôi tay chúng ta, trong Thánh Lễ, đưa ra để trao hay nhận một cử chỉ chào bình an. Nhưng hãy coi chừng, qua những cử chỉ ấy, chúng ta cam kết từ chối bo bo giữ lại của cải hay đặc ân nào đó. Những cử chỉ ấy nhắc cho ta nhớ rằng không thể từ chối đưa tay ra giúp đỡ bất cứ người nào! Để sống có thủy có chung, phải là những bàn tay biết phát minh những cách chia sẻ, những bàn tay chịu đi tới chỗ dính đồ dơ bẩn, mà chính nhờ vậy mà được giữ gìn trong trắng”.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con biết Chúa yêu thương chúng con bằng một tình yêu cao vời vô giá. Chúa yêu chúng con bằng tất cả con người của Chúa. Mỗi người chúng con không chỉ là một con số, nhưng tất cả chúng con đều có chỗ trong Trái Tim yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con biết chia sẻ niềm vui, đem ơn cứu độ đến cho người khác, bởi vì ơn cứu độ của Chúa trải rộng đến mọi người. Amen.

 

Minh họa Lời Chúa
NGÔN HÀNH BẤT NHẤT
Tại một tu viện cổ kính, sau khi tiếng chuông nhà nguyện vang lên, các tu sĩ tập hợp nơi hành lang nguyện đường, chào đón một tập sinh mới trải qua giai đoạn thử thách, để trở nên thành viên chính thức của tu viện. Thầy giáo tập Laisasi trình bề trên:
- Thưa bề trên, con xin trình lên bề trên tập sinh Laicoasi. Trước đây tập sinh này là một con người hống hách ươn ngạnh, nhưng nay đã trở thành người mới, đáng được vào hàng ngũ tu sĩ chúng ta.
Thế là tập sinh Laicoasi được lệnh lên đứng trước các tu sĩ. Thầy giáo tập bắt đầu chữi bới và nặng lời phỉ báng tập sinh. Thầy còn tát vào mặt anh, đánh anh té xuống đất. Tập sinh Laicoasi vẫn im lặng, khiêm nhường, kiên nhẫn chịu thử thách.
Vị tu viện trưởng hết sức xúc động trước sự biến đổi lớn lao của tập sinh và tuyên bố:
- Tập sinh Laicoasi đã trải qua khảo hạch về kiên nhẫn, nên kể từ nay anh được trở nên thành viên chính thức của tu viện chúng ta. Xin chúc mừng và chào Laicoasi.
Bỗng đột ngột Laicoasi quay lại đánh thầy giáo tập tới tấp. Rồi anh cười nhìn thầy giáo tập đang nằm sóng sượt trên đất. Vị tu viện trưởng hoảng hốt hỏi:
- Sao anh đánh thầy giáo tập?
- Thưa bề trên, con muốn thử thầy giáo tập của con, xem thầy có thực hành những gì thầy đã dạy con không?
Câu chuyện vui trên đây minh họa thái độ của hai người con trong Tin Mừng hôm nay. Khi người cha bảo đứa con thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho. Nó đáp: Con không muốn đâu! Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: Thưa Ngài, con đây! Nhưng rồi lại không đi" (Mt. 21, 28-30)
Người con thứ nhất là người "ngôn hành hiệp nhất". Con người "ngôn hành hiệp nhất" chẳng những làm tròn bổn phận đối với mọi người mà còn được mọi người tôn trọng, vì lời họ nói luôn đi đôi với việc họ làm. Họ cũng là người khiêm nhường và can đảm. Một khi đã hứa là sẽ nỗ lực hết sức lực thực hành lời hứa. Họ biết rằng lời hứa của họ có liên quan đến vận mệnh người khác.
Còn người con thứ hai mà không làm, tức là "ngôn hành bất nhất". Họ hứa cách cẩu thả, không suy nghĩ xem mình có khả năng thực hiện điều mình hứa không. Những con người như thế, thoạt nhìn người ta tưởng họ là những người tốt, nhưng đó lại là những con người thiếu trách nhiệm, dối trá, sẽ gây đau khổ thất vọng cho người mong chờ lời hứa của họ được thực hiện.
Đó chỉ là bình diện nhân bản. Còn trong bình diện thiêng liêng, chúng ta cố gắng "ngôn hành hiệp nhất" trong suốt cuộc đời chúng ta đối với Thiên Chúa, vì Ngài là Đấng trung tín, luôn giữ đúng lời hứa với chúng ta. Ngài đã lên án gắt gao các biệt phái và kinh sư về thái độ "ngôn hành bất nhất" của họ.
(Theo "Ánh sáng thế gian").

 
Mỗi tuần 1 vị thánh
Thánh Wenceslaus (907 - 929)
Nếu Giáo Hội được mô tả một cách sai lầm như bao gồm những người "thuộc thế giới khác," thì cuộc đời Thánh Wenceslaus là một minh chứng cho sự khác biệt đó: Người bênh vực các giá trị Kitô Giáo giữa những mưu đồ chính trị mà đó là đặc điểm của Bohemia vào thế kỷ thứ 10. 
Người sinh năm 907 gần Prague, con của Công Tước Bohemia. Bà nội thánh thiện của người là bà Ludmilla, đã nuôi nấng và dạy dỗ người với hy vọng người sẽ cầm quyền ở Bohemia thay cho mẹ của Wenceslaus, là người ưa thích các bè phái chống đối Kitô Giáo. Hiển nhiên là bà nội Ludmilla bị giết, nhưng các lực lượng Kitô Giáo mạnh thế đã chiến thắng, và Wenceslaus đã nắm giữ chức vụ lãnh đạo trong chính phủ.
Sự cai trị của Wenceslaus được ghi nhận qua các nỗ lực nhằm đoàn kết Bohemia, hỗ trợ Giáo Hội và các cuộc đàm phán hòa bình với nước Ðức, nhưng chính vì thế người đã gặp khó khăn với những người chống Kitô Giáo. Em của người là Boleslav đã nhúng tay vào một âm mưu, và trong tháng Chín 929, ông mời Wenceslaus đến Alt Bunglou để dự lễ các Thánh Cosmas và Damian. Trên đường đi dự lễ, Boleslav đã tấn công chính anh mình, và trong cuộc ẩu đả, Wenceslaus đã bị giết bởi bộ hạ của Boleslav.
Mặc dù cái chết của người là hậu quả chính yếu của biến động chính trị, Thánh Wenceslaus được ca tụng như một vị tử đạo vì đức tin, và mộ của người trở nên trung tâm hành hương. Thánh nhân được xưng tụng là quan thầy của người Bohemia và người Tiệp Khắc trước kia.

 

GƯƠNG SÁNG

Ngày kia, tại một làng nhỏ ở Miền Nam Trung Quốc, một em bé gái tiều tụy, đói rách và mang bệnh phong hủi bị dân làng dùng gậy gộc và gạch đá xua đuổi ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn của em.
Giữa cảnh hỗn loạn ấy, một nhà truyền giáo xông ra ẵm em bé trên tay để bảo vệ em khỏi những trận đòn và những viên gạch đá ném bừa bãi vào tấm thân bé bỏng của em.

Thấy có người mang em bé đi, dân làng mới chịu rút lui, nhưng miệng vẫn còn gào thét: "Phong hủi! Phong hủi!"

Với những giọt nước mắt lăn tròn trên đôi má, lần này là những giọt nước mắt vui mừng chứ không phải là những giọt lệ sầu đau, em bé hỏi vị cứu tinh của mình:

- Tại sao ông lại lo lắng cho con?

Nhà truyền giáo đáp:

- Vì Thiên Chúa đã tạo dựng nên cả hai chúng ta. Và cũng vì thế em sẽ là em bé gái của ta và ta sẽ là người anh lớn của em bé.

Suy nghĩ hồi lâu, em bé cất tiếng hỏi:

- Con có thể làm gì để tỏ lòng biết ơn sự cứu giúp của ông?

Nhà truyền giáo mỉm cười đáp:

- Con hãy trao tặng cho những người khác tình yêu của con, càng nhiều càng tốt.

Kể từ ngày ấy cho đến ba năm sau, khi em bé gái tắt hơi thở cuối cùng, em đã vui vẻ băng bó các vết thương cho những bệnh nhân khác, ân cần đút cơm cho họ, nhất là em luôn tỏ ra dễ thương và yêu mến tất cả mọi người trong trại.

Lúc từ giã cõi đời, em bé chỉ mới tròn mười một tuổi. Các bệnh nhân đã từng chung sống với em kháo láo với nhau:

- "Bầu trời nhỏ bé của chúng ta đã về trời!"

TÌM HIỂU
TẠI SAO LINH MỤC PHẢI MẶC ÁO DÀI TRẮNG,
ÁO LỄ VÀ ĐEO DÂY CÁC PHÉP?
Áo dài trắng (cũng gọi là áo Alba) là loại áo chùng dài màu trắng với hai ống tay rộng, được mặc bên trong.
Dây các phép (cũng gọi là dây Stola) là một dải vải dài, thường cùng màu với áo lễ. Giám mục và linh mục mang dây các phép chung quanh cổ và rủ xuống phía trước, còn Thầy phó tế lại đeo chéo vai. Cách đeo dây các phép cho phép ta dễ nhận ra phẩm trật của các chức thánh (Giám mục, Linh mục và Phó tế).
Áo lễ, rất rộng phủ ngoài áo dài trắng. Màu áo thì tùy theo mùa phụng vụ hoặc theo ngày lễ: đỏ, xanh tím, trắng (hoặc vàng).
Phó tế chỉ mặc áo trắng và dây các phép (chéo vai).
Trong Hội thánh là Nhiệm Thể Chúa Kitô, các chi thể không thi hành cùng  một chức vụ như nhau. Khi thi hành việc phụng tự, sự khác biệt về chức vụ được biểu lộ ra bề ngoài nhờ sự khác biệt về phẩm phục. Do đó phẩm phục là dấu chỉ của mọi thừa tác viên. Hơn nữa, phẩm phục thánh làm tăng vẻ trang trọng của chính nghi lễ phụng vụ.
Nếu Linh mục phải mặc áo dài trắng, áo lễ và đeo dây các phép trong thánh lễ, chính chỉ vì muốn cho mọi người biết rằng Linh mục nói và hành động không phải với danh nghĩa cá nhân của mình, nhưng là nhân danh Đức Giêsu Kitô.

 

 

Đính kèm: