T3, 04.07.2017: Sự yếu lòng

Thứ Ba tuần XIII mùa Thường Niên
 
Lời Chúa: Mt 8,23-27

23 Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền, có các môn đệ theo Người. 24 Và đây biển động dữ dội, đến nỗi sóng phủ lên thuyền, thế mà Người vẫn ngủ. 25 Các môn đệ lại gần đánh thức Người dậy mà rằng: "Lạy Thầy, xin cứu lấy chúng con kẻo chết mất!" 26 Chúa phán: "Hỡi những kẻ yếu lòng tin! Sao các con nhát sợ?" Bấy giờ Người chỗi dậy, truyền lệnh cho gió và biển. Và biển yên lặng như tờ! 27 Cho nên những người ấy kinh ngạc mà rằng: "Ông này là ai mà gió và biển đều vâng phục?"

(Nguồn: Uỷ ban Thánh Kinh / HĐGMVN)

Chúa phán: "Hỡi những kẻ yếu lòng tin! Sao các con nhát sợ?" (Mt 8,26)

Suy niệm

A- Phân tích (Hạt giống...)

Qua các phép lạ dẹp yên bão táp, Chúa Giêsu muốn mặc khải cho các môn đệ biết thêm về Ngài, đồng thời huấn luyện đức tin các ông:

Người Do Thái cho rằng biển cả là sào huyệt của quỷ dữ, biển động là dấu quỷ dữ lộng hành. Họ cũng nghĩ rằng chỉ một mình Thiên Chúa và những kẻ được Thiên Chúa ban quyền đặc biệt mới có thể chế ngự được sức mạnh của biển cả. Vậy Chúa Giêsu dẹp yên bão biển chứng tỏ Ngài có sức mạnh của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu ngủ đang lúc bão: Không phải vì Ngài quá mệt. Thực ra Ngài “làm bộ” ngủ thôi, để thử xem các môn đệ có an tâm giữa giông bão khi có Ngài hiện diện giữa họ không. Các ông đã sợ hãi cuống cuồng chứng tỏ các ông chưa vững tin. Bởi đó, sau phép lạ Ngài đã trách “Hỡi những kẻ yếu lòng tin”.

B- Suy gẫm (...nẩy mầm)

1. “Chúa Giêsu xuống thuyền, các môn đệ đi theo Ngài và đây biển động dữ dội”: con đường Chúa dẫn các môn đệ đi không phải là con đường bằng phẳng, êm ả, nhưng nhiều khi đi vào tăm tối nhiều lúc đi vào bão táp phong ba. Nếu người môn đệ thực sự tin vào Ngài thì luôn phó thác trong an bình. Ngược lại, khi gặp tối tăm hay bão táp mà cuống cuồng sợ hãi thì đó là dấu người ấy còn kém lòng tin.

2. “Thế mà Ngài vẫn ngủ”: Chúa Giêsu vẫn xử sự như thế, xưa cũng như nay. Chính vì thế mà nhiều người đã phải lo sợ cuống cuồng: Sao Chúa vẫn ngủ? Sao Chúa không ra tay? Chúa vắng mặt rồi ư? Hay Chúa đã chết? Hay Chúa đã bỏ con? Nhận thức phó thác là như thế: Vẫn an tâm giữa bão táp cho dù không thấy Chúa hành động gì cả. Ước chi tôi có tinh thần phó thác tới mức độ ấy.

3. Một người hành hương gặp bệnh dịch đang vào Baghdad. Anh hỏi bệnh dịch: “Mi định làm gì đó?”. Tôi sẽ giết 5000 người.

Người hành hương rùng mình và thay đổi dự định. Tuy nhiên, anh gặp một người từ trong Thành Phố bị nạn đó và được biết không phải là 5000 người mà là 50.000 người chết.

Liền sau đó anh lại gặp bệnh dịch đang tới Thành Phố khác. Ông buộc tội: Anh nói khoác. Anh nói chỉ giết 5000 thôi mà?”.

Bệnh dịch giải thích một các vui vẻ: “Tôi chỉ giết có 5000 người thôi. Số còn lại chết vì hoảng sợ”. (Góp nhặt).

4. Mỗi khi nghĩ tới nhân đức phó thác là tôi nhớ đến hai bức tranh:

- Hình bức tranh thứ nhất vẽ một đứa bé nằm ngủ ngon lành trong vòng tay ôm ấm của mẹ, ngoài kia trời đang mưa lớn, những tia chớp xé trời, những tiếng gầm làm rung các cánh cửa;

- Bức thứ hai vẽ mặt biển đang nổi cơn, chiếc tàu đã tan thành những mảnh vụn, một người ướt ngoi ngóp đang ôm chặt một tảng đá nhô lên khỏi mặt biển. Phía trên tảng đá đó có tượng Thánh giá. Bức hình được họa sỹ đề tên là Espérance.

(Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)

Cầu nguyện: 

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Giữa cuôc đời đầy sóng gió nghi nan. Cuộc đời chúng con như chiếc thuyền nan mong manh nhỏ bé, nổi trôi trên giòng đời. Chúa biết chúng con yếu đuối. Chúa biết chúng con khó có thể vượt thắng những cạm bẫy giăng đầy. Xin Chúa hãy nâng đỡ chúng con. Xin giúp chúng con biết nhận ra sự đồng hành của Chúa để chúng con biết bám víu và cậy dựa vào Chúa.

Nhưng Chúa ơi, sóng gió cuộc đời luôn làm cho chúng con sợ hãi. Gian truân triền miên khiến chúng con mệt mỏi. Dòng đời có quá nhiều cám dỗ khiến chúng con sa đi ngã lại trong lầm lỗi. Xin thương tha thứ cho chúng con. Xin nâng đỡ lòng tin còn quá yếu kém của chúng con. Xin ban cho chúng con niềm trông cậy vững vàng, để chúng con dám trao cả vận mạng đời mình vào bàn tay quan phòng của Chúa. Vì có Ngài ở bên, lòng chúng con chẳng nao núng bao giờ.

Lạy Chúa Giêsu mến yêu, Chúa luôn bênh đỡ những ai kêu cầu Chúa. Xin hãy nhìn đến phận người chúng con và giờ tay bênh đỡ. Chúng con xin tín thác cuộc đời trong sự quan phòng đầy yêu thương cùa Chúa. Amen.

(Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

Xem thêm:

BÀI ÐỌC I: St 19, 15-29

"Chúa cho mưa sinh diêm và lửa xuống trên thành Sôđôma và Gômôra"

Bài trích sách Sáng Thế

Trong những ngày ấy, các thiên thần hối thúc ông Lót rằng: "Hãy chỗi dậy đem vợ và hai con gái của ngươi đi, kẻo chính ngươi cũng phải chết lây vì tội của thành Sôđôma!" Khi ông Lót còn đang do dự, các thiên thần nắm tay ông cùng vợ ông và hai con gái ông, vì Chúa muốn cứu thoát ông. Các thiên thần kéo ông ra ngoài thành và nói: "Ngươi muốn sống thì hãy chạy đi, đừng nhìn lại phía sau; cũng đừng dừng lại nơi nào cả trong miền quanh đây, nhưng hãy trốn lên núi, để khỏi chết lây!" Ông Lót thưa: "Lạy Chúa tôi, tôi van xin Ngài: Tôi tớ Chúa đã được Chúa thương yêu, và Chúa đã tỏ lòng khoan dung đại độ gìn giữ mạng sống tôi. Tôi không thể trốn lên núi kẻo gặp sự dữ mà chết mất. Gần đây có một thành phố nhỏ, tôi có thể chạy tới đó và thoát nạn. Thành đó chẳng nhỏ bé sao, xin cho tôi ẩn tránh tại đó để được sống". Thiên thần nói: "Thôi được, ta cũng chiều ý ngươi xin mà không tàn phá thành ngươi đã nói tới. Ngươi hãy mau mau trốn thoát tới đó, vì ta chẳng làm được gì trước khi ngươi đi tới đó". Bởi đó đã gọi tên thành ấy là Sêgor. Mặt trời vừa mọc lên thì ông Lót vào đến thành Sêgor. Vậy Thiên Chúa cho mưa sinh diêm và lửa từ trời xuống trên thành Sôđôma và Gômôra. Người huỷ diệt các thành này, cả miền chung quanh, toàn thể dân cư trong thành cùng các giống xanh tươi trên đất. Bà vợ ông Lót nhìn lại phía sau, nên đã biến thành tượng muối.

Sáng sớm (hôm sau) ông Abraham thức dậy, đi đến nơi ông đã đứng hầu Chúa trước đây, ông nhìn về phía thành Sôđôma, và Gômôra và cả miền ấy, ông thấy khói từ đất bốc lên cao như khói một lò lửa hồng. Khi Chúa phá huỷ các thành trong miền ấy, Người đã nhớ đến Abraham mà cứu ông Lót thoát cảnh tàn phá tại các thành mà ông đã cư ngụ.

(Nguồn: Uỷ ban Thánh Kinh / HĐGMVN)