Thánh Louis

Lược sử Giáo họ Thánh Louis

 

GIÁO HỌ THÁNH LOUIS

1.     PHẦN MỞ ĐẦU:

  • Ngày 20 tháng 07 năm 1954 Hiệp định Genève ký kết ngưng chiến, hơn một triệu người miền Bắc vào Nam sinh sống, giúp cho hai miền Nam Bắc quân bình dân số (Miền Nam đất rộng người thưa).
  • Ngày 10 tháng 08 năm 1954 Cha Chánh Xứ Giuse Maria Nguyễn Kế Phú cùng Giáo dân Giáo xứ Nhân Nghĩa thuộc Địa phận Hải phòng lên tàu vào Nam.
  • Chiều 14 tháng 08 năm 1954 tàu cặp cảng Sài gòn.
  • Sáng 15 tháng 08 năm 1954 Cha và Giáo dân được chuyển  đến Tôn Thọ Tường (Chợ Lớn) tạm cư tại đó cũng là ngày mừng kính Đức Mẹ về trời.
  • Cuối tháng 08 đầu tháng 09 năm 1954, một lần nữa Cha  và Giáo dân được chuyển đến trại tạm cư  Hòa Khánh – Đức Hoà – Chợ Lớn (thời kỳ đó thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, nay thuộc tỉnh Long An).

2.     TRẠI DI CƯ HÒA KHÁNH – ĐỨC HOÀ (1954 – 1955)

  • Ngày 10 tháng 10 năm 1954 Giáo xứ Nhân Nghĩa mừng kính Thánh Louis Bertrando bổn mạng Giáo xứ lần đầu tiên tại Miền Nam trong trại di cư  Hòa Khánh (Hình 2). Để tìm cho Giáo dân mình có một miền đất sinh sống, Cha luôn cầu nguyện, thăm hỏi và tìm kiếm.
  • Vào khoảng tháng 05 năm 1955, nhân lễ mở tay cha Louis Cao Đức Thuận (một người con của Giáo xứ Nhân Nghĩa) Cha Giuse Maria Nguyễn Kế Phú gặp cha Đệ (lớp đàn anh) đã chỉ cho Cha vùng đất Vũng Bèo – Bến Tắm Ngựa ở Gò Vấp là đất hoang chưa khai phá. Cha liền cử một số người đi khảo sát và tìm hiểu vùng đất này. Sau những tháng ngày tìm hiểu và liên hệ về mọi mặt, Cha nhận thấy vùng đất này có thể sinh sống được.
  • Cuối tháng 08 đầu tháng 09 năm 1954, Cha Giuse Maria Nguyễn Kế Phú và giáo dân xứ Nhân Nghĩa đến tạm cư  tại trại  di cư  Hoà Khánh. Trại có nhà thờ tạm. Bên ngoài trại có nhứng dãy nhà mái lợp tole vách ngăn bằng phên tre (Hình 1). Trại phân bổ cho 2 gia đình một căn nhà, mọi chi phí sinh sống đều do Chính phủ lúc bấy giờ tài trợ.
  • Ngày 10 tháng 10 năm 1955, mừng lễ Bổn mạng năm thứ hai tại Hòa Khánh, Cha  và Giáo dân xứ Nhân Nghĩa quyết tâm chọn vùng đất này làm quê hương thứ hai của mình.

3.     THÀNH LẬP XỨ  BẾN HẢI – HỌ NHÂN NGHĨA (1955 – 1964):

  • Cuối năm 1955 đầu năm 1956, sau khi liên hệ xin được vùng đất Vũng Bèo – Bến Tắm Ngựa, Cha Giuse Maria Nguyễn Kế Phú và Giáo dân xứ Nhân Nghĩa cùng một số Giáo dân gốc Yên Mỹ (huyết tộc Cha Xứ) lại lên đường về vùng đất mới.
  • Khởi đầu Giáo dân họ Nhân Nghĩa về trước làm nhà sát chân đường kho xăng. Nhà thờ cũng làm sát chân đường. Nhà thờ và nhà ở mái đều lợp bằng vải bạt.
  • Kế đến Giáo dân gốc Yên Mỹ.
  • Giáo dân gốc họ An Toàn.
  • Giáo dân gốc Địa phận Phát Diệm.
  • Nhận thấy giáo dân di cư qui tụ về đã khá đông. Cha và đại diện 4 họ đã họp và chọn ra một cái tên cho xứ mới: Xứ Di Cư Bến Hải. Bến là bến nước (Bến Cát – Bến Tắm Ngựa – Bến Đình…). Hải là nước, là Địa phận mẹ Hải Phòng.
  • Ngày 23 tháng 01 năm 1956, danh từ Xứ Di Cư Bến Hải bắt đầu chính thức sử dụng trong giấy tờ sổ sách của Giáo xứ. Ngày này cũng là ngày em bé đầu tiên được rửa tội tại Xứ Di Cư Bến Hải (trích sổ rửa tội năm 1956).
  • Ngày 23 tháng 07 năm 1956 Họ Nhân Nghĩa chính thức bầu trùm họ (Biên bản bầu trùm họ).
  • Năm 1957 Nhà thờ ban đầu tọa lạc gần chân đường kho xăng, được dời vào vị trí như ngày nay.
  • Họ Nhân Nghĩa sau khi làm đường, đắp nền nhà, đắp đê cũng dời vào cách Kho Xăng 300m – 400m (hình 3 & hình 4).

4.  XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KHU  NHÂN NGHĨA (1964 – 1992):

  • Năm 1964 Cha Giuse Maria Nguyễn Kế Phú nghỉ hưu tại dòng Đồng Công Thủ Đức.
  • Cũng trong năm 1964 Cha Gioan Baotixita Nguyễn An Hòa về nhận xứ Bến Hải.
  • Họ Nhân Nghĩa được gọi là Khu Nhân Nghĩa có Bổn mạng là Thánh Louis Bertrando nên còn gọi là Khu Louis. Trong thời gian này Khu Nhân Nghĩa phát triển song phương cùng với Giáo xứ, đời sống Giáo dân tương đối ổn định. Công việc làm ăn nói chung chỉ đủ sống (đa số là nông nghiệp).
  • Ngày 30 tháng 04 năm 1975, chiến tranh chấm dứt. Trong Khu đã có một số hộ đi kinh tế mới hoặc hồi hương, một số ra nước ngoài. Nhân lực trong Khu có chiều hướng giảm sút nhưng lòng đạo vẫn rất sốt sắng.
  • Năm 1992 Cha Gioan Baotixita Nguyễn An Hòa về nhà Cha.

5.  KHU GIÁO LOUIS (1992 - 1999):

  • Ngày 08 tháng 07 năm 1992 Cha Vinh Sơn Trần Hòa nhận bài sai về Giáo xứ Bến Hải, Khu Nhân Nghĩa (Khu Louis ) được gọi theo tên Thánh bổn mạng là Khu Giáo Louis. Thời gian này nền kinh tế Việt nam nói chung có những biến chuyển tốt đẹp, nhiều gia đình trước hồi hương, kinh tế mới nay dần dần quay về Khu giáo. Năm 1995, Bến Hải từng bước đô thị hoá đã  phát triển rất nhanh, đất đai trở nên có giá trị. Đất đai chuyển hóa thành những khu dân cư mới. Người dân, trong đó có giáo dân Công Giáo và cả các tôn giáo bạn đã đến Bến Hải mua đất và làm ăn sinh sống.  Khu Giáo Louis cũng có những thay đổi: dân số đã tăng lên gấp 3 lần gồm cả dân nhập cư và dân cư phát triển tại chỗ – bộ mặt của Khu giáo đã khang trang hơn – nhà tường và nhà lầu đã dần thay thế cho nhà lá và nhà tôn vách gỗ…
  • Năm 1999 Cha Vinh Sơn Trần Hoà nhận bài sai về Giáo xứ  Hoàng Mai – Hạt Xóm Mới.

6.      GIÁO HỌ LOUIS (1999 - 2005):

  • Ngày 11 tháng 09 năm 1999 Cha Giuse Maria Phạm Hồng Thái về nhận Xứ Bến Hải.
  • Công tác mục vụ Giới trẻ được Cha chú ý  và ngày 16 tháng 04 năm 2000 nhóm trẻ Louis được ra mắt.
  • Cha xứ cho phép phục hồi đội trống Họ Nhân Nghĩa.
  • Cuối năm 2000 Cha xứ cho lập thùng tiết kiệm tại mỗi Khu Giáo để chuẩn bị xây dựng lại nhà thờ.
  • Do điều kiện đất đai tại Giáo xứ Bến Hải còn khá rộng, nhờ vào địa điểm tương đối thuận lợi, dân nhập cư  khắp nơi đổ về ngày một đông. lối sống hoà hợp của Giáo dân giáo họ Louis với mọi người nhập cư. Nhờ đó, dù lương hay giáo đã sống trong Khu đều sống quảng đại, chia sẻ vui buồn với mọi người xung quanh, nhất là với người già – ngừơi cô đơn – bệnh tật. Thời kỳ này Khu Giáo Louis cũng là một trong những điểm nóng của việc truyền giáo.
  • Ngày 27 tháng 01 năm 2003 Khu Giáo Louis được đổi thành Giáo họ Louis.
  • Ngày 27 tháng 06 năm 2003 Ban Điều hành Giáo họ nhiệm kỳ mới (2003 – 2008) chính thức được công nhận và đi vào hoạt động.
  • Ngày 05 tháng 05 năm 2005 Cha Giuse Maria Phạm Hồng Thái nhận bài sai về  Giáo xứ  Đông Quang – Quận 12.. Ngày 10 tháng 05 năm 2005 Cha Giuse Phạm Công Trường về nhận xứ Bến Hải.

7.     VỊ TRÍ GIÁO HỌ LOUIS  HIỆN NAY:

Giáo họ Louis ngày nay đã nằm sát chân kho xăng, không còn khoảng cách như thời chiến tranh.

  • Đông nam:      Giáp đường xe lửa – Phường 11 Quận Bình Thạnh – Giáo xứ Bình Hoà Quận Bình Thạnh.
  • Tây nam:         Giáp kho xăng.
  • Tây bắc:          Giáp Giáo họ Mân Côi, Giáo họ An Tôn.
  • Đông bắc:       Giáp Rạch Lăng – Cầu Đen – Phường 13 Quận Bình Thạnh – Giáo xứ  Bình lợi Quận Bình Thạnh.

 DÂN SỐ

1. Cha Giuse Maria Nguyễn Kế Phú

Hình thành giai đoạn đầu khoảng 42 hộ gia đình công giáo khoảng 230 Giáo dân.

2. Cha Gioanbaotixita Nguyễn An Hoà

Trong  giai đoạn này do ảnh hưởng của chiến tranh, và nhất là sau ngày 30/04/1975 một số Giáo dân rất đônghồi hương, đi kinh tế mới  nên Giáo dân giảm sút trong giai đoạn 1975 – 1980 còn khoảng 36 hộ với 192 nhân khẩu. Trong thập niên 1990 trở về sau  kinh tế Việt Nam phát triển, các gia đình trước đây hồi hương, đi kinh tế mới nay đã quay về cùng với số người nhập cư  cộng thêm gia tăng dân số tại chỗ nên số hộ giai đoạn này đã là 70 với khoảng 320 nhân khẩu.

3. Cha Vinh Sơn Trần Văn Hoà

Tổng số hộ gia đình Công giáo trong thời điểm này là 120 hộ với khoảng 430 nhân khẩu.

4. Cha Giuse Maria Phạm Hồng Thái.

Tổng số hộ gia đình Công giáo trong giai đoạn này là 170 hộ với khoảng 630 nhân khẩu.

5, Cha Giuse Phạm Công Trường.

Theo số liệu thống kê đến ngày 01/10/2010 thì tổng số hộ gia đình Công giáo là 162 hộ với 600 nhân khẩu.

Kinh tế Giáo họ qua các thời kỳ:

1.  Cha Giuse Maria Nguyễn Kế Phú:  Chủ yếu khai phá và xây dựng, trồng lúa và rau xanh.

2. Cha Gioanbaotixita Nguyễn An Hòa:  Vẫn chủ yếu là nông nghiệp: trồng lúa, cói và rau xanh; dệt chiếu; công chức ; giáo viên. Từ năm 1968 phát triển nuôi gà công nghiệp, nuôi heo theo dạng nhỏ lẻ. Sau ngày 30/04/1975 làm nông nghiệp theo dạng tập đoàn tập thể, công nhân viên chức.

3. Cha Vinh sơn Trần Văn Hòa:

  • Đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, Hợp tác xã nông nghiệp giải thể, nông nghiệp chỉ còn lại khoảng 30%, Chăn nuôi phát triển.
  • Thời kỳ này hình thành những hộ buôn bán nhỏ lẻ và cả quy mô lớn. Đa phần thanh thiếu niên tạo cho mình một hướng đi mới là học tập để kiếm cho mình một công việc và vị trí tốt hơn. Nguồn thu nhập khác từ các hộ làm nhà cho thuê.

5. Cha Giuse Maria Phạm Hồng Thái:

  • Giai đoạn này nông nghiệp hầu như biến mất trong Giáo họ, chỉ còn lại khoảng 2%, đa số người giáo dân đã làm việc theo khả năng của mình trong các môi trường kinh tế khác nhau.
  • Chăn nuôi chiếm khoảng 3%, nguồn thu nhập khác là phòng cho thuê.

6. Cha Giuse Phạm Công Trường:  Kinh tế cũng  phát triển tương tự như trên.

Sinh Hoạt Giáo Họ

Những tập tục truyền thống của Giáo họ:

  •  Đội trống: Được thành lập từ ngoài miền Bắc và khi di cư vào Nam vẫn tiếp tục duy trì và hoạt động cho đến nay (sẽ trình bày ở mục       phần         ).
  • Theo thông lệ của Giáo họ hàng năm vào dịp lễ Bổn mạng Giáo họ đều có rước kiệu, tổ chức lễ long trọng và hôn xương Thánh Bổn mạng, có đội trống phục vụ.
  • Khi có người trong Giáo họ mới qua đời, mỗi gia đình đều phải có người tham gia khiêng quan tài đến Nhà Thờ, Đội trống tham gia rước linh cữu đến Nhà Thờ. Tuy nhiên việc tham gia khiêng quan tài đã không thực hiện từ sau giải phóng nhưng việc Đội trống tham gia vẫn còn duy trì. Sau tang lễ, giáo dân  trong giáo họ tập trung tại nhà tang chủ đọc kinh cầu nguyện cho người quá cố 3 buổi tối.
  • Hàng năm vào dịp Tết Nguyên Đán – Tết Trung Thu Giáo họ còn tổ chức một số trò chơi dân gian nhưng không duy trì thường xuyên.
  • Việc gia nhập Giáo họ rất đơn giản và dễ dàng giúp mọi người mau chóng hòa nhập với Cộng đoàn Giáo họ và Giáo xứ dễ dàng.
 
 
 
Sinh hoạt giáo họ Louis xưa

 

Ban điều hành Giáo họ

Ban điều hành Giáo họ (BĐH) của mỗi Giáo họ Giáo xứ Bến Hải trong từng giai đoạn các Linh Mục về nhậm  xứ được thống nhất theo Quy chế chung của Giáo phận. Từ ngày lập xứ đến nay, Giáo họ đã có các vị phục vụ qua nhiều nhiệm kỳ. Tùy theo thời điểm, chức danh các vị được gọi như sau :

1.Thời Cha cố Giuse Maria Nguyễn Kế Phú, ban Trùm họ có hai thành viên, nhiệm kỳ là ba năm:
Nhiệm kỳ I

  • Ông Trùm: Giuse Hoàng Văn Phúc (1899- 1980)
  • Bà Quản : Maria Đỗ Thị Sánh (1926 - )

Nhiệm kỳ II

  • Ông Trùm: Giuse Cao Văn Yến (1916 – 1995 +)
  • Bà Quản : Maria Cao Thị Tý (1907 - 1984)

2.Thời Cha cố Gioan Baotixita Nguyễn An Hoà, ban làm việc có ba thành viên, nhiệm kỳ là ba năm:
Nhiệm kỳ III

  • Ông Trùm: Louis Đỗ Văn Khấn (1920 – 1997 +)
  • Ông Quản: Giuse Hoàng Văn Ngoạn (1903 - +)
  • Bà Quản : Maria Hoàng Thị Hợi (1930 - )

Nhiệm kỳ IV

  • Ông Trùm : Louis Đỗ Đức Thao (1922 – 1973 +)
  • Ông Quản ; Giuse Nguyễn Châu Phê (1940 - +)
  • Bà Quản : Maria Nguyễn Thị Na (1942 - )

Nhiệm kỳ V

  • Ông Trùm :Giuse Nguyễn Văn Bính (1920 – 2000 +)
  • Ông Quản: Giuse Hoàng Văn Bạn (1946 - )
  • Bà Quản : Maria Đỗ Thị Điệp (1941 – 2005 +)

Nhiệm kỳ VI

  • Ông Trùm: Giuse Hoàng Văn Thẩm (1925 - 1988)
  • Ông Quản: Giuse Nguyễn Châu Phê (1940 - )
  • Bà Quản : Maria Đỗ Thị Điệp (1941 - 2005)

Nhiệm kỳ VII

  • Ông Trùm: Louis Đỗ Huy Vực (1930 - 1999)
  • Ông Quản: Louis Đỗ Văn Vòng (1946 - )
  • Bà Quản : Maria Đỗ Thị Ríu (1929 – 2002 + )

Nhiệm kỳ VIII

  • Ông Trùm : Louis Đỗ Văn Thuỳ (1932 - 2003)
  • Ông Quản: Giuse Nguyễn Văn Đằng (1933 - )
  • Bà Quản : Anna Cao Thị Thể (1929 - )

Nhiệm kỳ IX

  • Ông Trùm : Giuse Hoàng Văn Quảng (1920 – 2003 + )
  • Ông Quản: Lu-Y Đỗ văn Cử (1946 - )
  • Bà Quản : Anna Cao thị Thể (1929 - )

Nhiệm kỳ X

  • Ông Trùm : Giuse Nguyễn Văn Đằng (1933 - )
  • Ông Quản: Giuse Hoàng Văn Chiểu (1942 - )
  • Bà Quản : Maria Vũ Thị Hựu (1957 - )

Nhiệm kỳ XI

  • Ông Trùm: Louis Cao Văn Bông (1947 - )
  • Ông Quản: Louis Nguyễn Văn Nghệ (1950 - )
  • Bà Quản : Maria Nguyễn Thị Lơ (1939 - )

Nhiệm kỳ XII

  • Trưởng Khu giáo : Ô. Louis Cao Văn Bông (1947)
  • Phó khu : Ô. Louis Nguyễn Văn Nghệ (1950)
  • Phụng vụ kiêm Quàn giáo : Ô. Giuse Nguyễn Gia Hợp (1958 )
  • Bác ái xã hội kiêm Quản giáo: Maria Nguyễn Thị Lơ (1939)

Nhiệm kỳ XIII

  • Trưởng Khu giáo: Ô. Lu-Y Cao văn Bông (1947)
  • Phó Khu giáo : Ô Lu-Y Đỗ văn Phước ( 1957 )
  • Quản giáo kiêm Phụng vụ: Ô Lu Y Đỗ Văn Bộ (1956 )
  • Quản giáo kiêm Bá ái xã hội: Maria Nguyễn Thị Lơ (1939 )

4. Thời Cha Giuse Maria Phạm Hồng Thái (1999 - 2005), theo Quy chế Hội đồng Mục Vụ của Giáo xứ đã được Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn duyệt, Ban Điều hành Giáo họ có sáu thành viên, nhiệm kỳ là 5 năm.
Nhiệm kỳ XIV

  • Trưởng Giáo họ : Ông Louis Đỗ văn Bộ (1956)
  • Phó Giáo họ : Ông Louis Đỗ văn Phước (1957)
  • Phụng vụ : Ông Giuse Hoàng Kim Đoàn (1967)
  • Giới trẻ : Ông Giuse Tạ Tài (1950)
  • Quản họ : Bà Maria Đỗ Thị Viền (1950)
  • Bác ái xã hội : Bà Maria Cao Thị Miến (1947)

* 2005 Ông Ủy viên Phụng vụ kiêm nhiệm Phó Giáo họ thay cho ông Phước.

* 2006 Ông Louis Nguyễn Trấn Thành thay cho Ông Phước

5. Cha Giuse Phạm Công Trường nhiệm xứ  (2005 - đến nay......) :  vẫn thực hiện theo Quy chế Hội đồng Mục vụ Giáo xứ và đến thời điểm hiện nay Ban điều hành Giáo họ vẫn được lưu nhiệm cho đến khi có thay đổi mới (cập nhật năm 2012)
Nhiệm kỳ XV (2012 -2016)

  • Trưởng giáo họ : Ông Giuse Hoàng Kim Đoàn (1967)
  • Phó giáo họ 1 : Ông Louis Cao Bá Hoàng Văn
  • Phó giáo họ 2 :  Ông Louis Đỗ Văn Tranh
  • Thư ký: Ông Giuse Bùi Xuân Thành
  • Quản họ : Bà Maria Nguyễn Thị Oanh
  • Bác ái xã hội : Bà Têrêsa Phạm Thị Ngọc Bích

 

Cống hiến cho Giáo hội

SINH HỌAT GIÁO HỌ
CỐNG HIẾN CHO GIÁO HỘI VÀ GIÁO XỨ

1. Linh Mục: Louis Bertrand Cao Đức Thuận.

Sinh 1924. Thụ phong Linh Mục 1955. Kim Khánh Linh Mục 02.05.2005. Trước năm 1975,Giám đốc Nha Tuyên Uý. Hiện đang đào tạo Linh Mục và Tu sĩ nam - nữ cho Giáo Phận Hải Phòng.

2. Tu sĩ :

* Nữ tu Đa minh Maria Bênađô Đỗ Thị Sợi sinh 1936, khấn trọn đời 30.04.1964 đang phục vụ tại TV Đức Mẹ Vô Nhiễm 117 Lê Lợi, F4, Gò Vấp
* Nữ tu Đaminh Maria Hoàng Thị Hoa. Sinh 1936, khấn trọn 1975, đang phục vụ tại hội dòng Phước tỉnh – Bà rịa – Vũng tầu.
* Nữ tu Mến Thánh Giá Maria Đỗ Thị Khích, sinh 1936, khấn trọn 1976, đang phục vụ tại Hội dòng Bắc Hải 48A/40 KP8 Hố nai- Biên hoà- ĐN
* Nữ tu Têrêxa Cao Thị Thanh Huyền, sinh 1946, khấn trọn 1972, đang phục vụ tại trường Mầm Non Khiết Tâm 40 Ql. I, p. Tân Biên, Biên Hoà.
* Nữ tu Maria Đỗ Thị Thanh Nhiên, sinh 1967, khấn trọn 1997, đang phục vụ tại Hội dòng Mến Thánh Giá Bắc Hải Hố Nai 48A/40 KP.8
* Nữ tu Maria Nguyễn Thị Hồng Thu, sinh 1967, khấn trọn 2000, đang phục vụ tại Cộng đoàn Ba Thôn, Q.12, Sài Gòn
* Sr Teresa Nguyễn Thị Bích Thủy, sinh năm 1972, khấn trọn đời: 14/01/2004 đang phục vụ tại Tu hội đời Nữ Thừa Sai Cho Các Bệnh Nhân-Đức Kitô niềm hy vọng.
* Sr Maria Đỗ Thị Trâm, sinh năm 1954 - 1976

3. Giáo dân tham gia:

* Huynh đoàn giáo dân Đa minh: 14 vị.
* Thánh Tâm : 15 vị.
* Legio Mariae : 25 vị.
* Bà Mẹ Công Giáo: 4 vị
* Nhóm cầu nguyện : 7 vị.
* Giáo lý viên : 1 em.
* Thiếu Nhi Thánh Thể - Lễ sinh : 2 em.
* Ca đoàn : 8 em.

Trong tinh thần Hiệp Nhất-Yêu Thương-Phục Vụ, Giáo họ Louis đã phát triển đông số hơn, đã hoà nhịp sống cùng các Giáo họ, mà vẫn giữ gìn được bản sắc của truyền thống riêng. Đồng hành cùng Giáo xứ đã năm mươi năm và sẽ mãi mãi.
 

Một nét văn hóa - Đội Trống Giáo họ Thánh Louis

LƯỢC SỬ THÀNH LẬP ĐỘI TRỐNG GIÁO HỌ LOUIS

Hằng năm, ngày 9.10 mừng lễ Thánh Louis, toàn Giáo họ xa gần đoàn tụ như ngày giỗ tổ, tổ chức lễ trọng thể, rước kiệu, hôn xương Thánh.http://titocovn.com/giaoxubenhai/louis/bonmang910

Khi trong giáo họ có một ai qua đời, mỗi gia đình đều đến chia sẻ, cầu nguyện, khiêng rước linh cữu đến thánh đường dự Lễ, xưa thì tiễn đến tận nơi an nghỉ, nay thời dịch vụ kinh doanh, mọi thể hiện lòng Bác ái – Yêu thương trở nên phong phú hơn. Khi tiễn đưa về, sẽ cùng nhau đọc kinh và cầu nguyện cho người quá cố ba buổi kinh tối.

Có một đội trống, được thành lập từ 1942: Cụ Lý Trà khởi xướng, Thầy Đỗ Huỳnh Sổ huấn luyện, Cụ Cao Bá Quần tài trợ. Một di sản rất là quí giá. Có những nét đặc sắc riêng về những bài bản, trang phục, phong cách tấu trình. Đáng tiếc vì ít nhiều đã có thất truyền. Nguyện vong cũa Giáo họ được nhiều khích lệ, cổ võ cho một thiện chí muốn phục hưng như thuở ban đầu:

* 1. Cụ Hoàng Văn Thuật
* 2. Cụ Đỗ Đức Long
* 3. Cụ Đỗ Đức Thao
* 4. Ông Hoàng Quang Rực

Hiện nay hội trưởng là ông Giuse Hoàng Văn Bạn. Hội Phó là ông Giuse Cao Văn Trung.

I. NGUỒN GỐC:

* Đội Trống Giáo họ Louis được thành lập năm 1942 do cụ Lý Trà mời thầy Đỗ Huỳnh Sổ từ thôn Mỹ Động, Kiến An, Hải Phòng về dạy hơn 1 năm và do cụ Cao Bá Quần tài trợ.
* Các bài trống gồm 22 bài, và bài đầu tiên là bài Lôsa nay đã thất truyền vì đây là bài khó.
* Thành phần đội hình và nhạc cụ được chia ra như sau:
o Đi đầu gồm:
* 2 con hạc đi trước.
o Đi giữa gồm: - 20 em đánh hai thanh tre hoặc gỗ.
* 6 em sênh tiền (nhạc cụ dài 1m, 2 đầu răng cưa đập váo 1 mõ có gắn lục lạc)
* 4 em đánh mõ.
* 4 em sênh la.
o Đi cuối gồm: - 2 em não bạt.
* 2 em trống cơm ( trống bản)
* 1 em trống cái và vị Nhạc Trưởng.
Trang phục dành cho đội trống thời xưa:

* Nhạc trưởng đội nón dứa, áo dài lương cạp hai cái châu quấn sà cạp, chân đi hài hoặc giầy.
* Đội viên đi hàng đôi, quần trắng áo đen đồng hành theo cặp hạc hoặc lân.
o Trang phục ngày nay:
o Cả nhạc trưởng và đội viên đều mặc áo sơ mi trắng và quần mầu.

II. HOẠT ĐỘNG
Phục vụ các cuộc rước Nhà Thờ, mừng lễ, các cuộc vui chơi truyền thống dân tộc, đón chào, đưa ma.

III. CÁC VỊ TIÊN KHỞI VÀ KẾ NHIÊM:

1. Khóa I: Cụ Hoàng Văn Thuật
2. Khóa II: Cụ Đỗ Đức Long
3. Khóa III: Cụ Đỗ Dức Thao
4. Khóa IV: Ông Hoàng Quang Rực

Thời gian từ sau ngày 30/04/1975 Đội trống chỉ hoạt động cầm chừng và chỉ phục vụ các đám tang.
Năm 1999, Cha Giuse Maria Phạm Hồng Thái về làm Chánh Xứ đã khuyến khích Giáo họ Louis khôi phục lại Đội trống. Đội đã bầu lại các vị kế nhiệm cho đến nay như sau:

1. Hội trưởng: Ông Giuse Hoàng Văn Bạn.
2. Hội phó: Ông Giuse Cao Văn Trung.

Hiện nay (cập nhật 2013)

Mục đích và tiêu chí hoạt động vẫn giữ theo tinh thần lúc mới thành lập.