Chúa Nhật IV MC-B

CN.4.MC.B
2Sbn 36,14…23; Ep 2,4-10
Ga 3,14-21

 Kết quả hình ảnh cho Ga 3,14-21

Giáo huấn số 52 (Lịch GP trang 123)
 
Đối thoại : “Hãy cởi mở trong suy nghĩ, đừng tự khép lại để mình mắc kẹt trong một vài ý kiến và quan điểm giới hạn của mình, nhưng hãy sẵn sàng để thay đổi hay bổ túc ý kiến của mình. Sự kết hợp cách nghĩ của tôi và cách nghĩ của người kia, khác nhau nhưng có thể dẫn đến một tổng hợp làm phong phú cho cả hai. Sự hợp nhất mà chúng ta cần tìm không phải là sự đồng dạng, nhưng là sự ‘hợp nhất trong khác biệt’, hay ‘sự khác biệt được hòa giải’. Theo đường hướng này, sự hiệp thông huynh đệ được làm cho phong phú bằng sự kính trọng và trân trọng những khác biệt trong một nhãn giới bao quát giúp thăng tiến thiện ích chung. Chúng ta phải giải phóng chính mình khỏi cái cảm nghĩ rằng tất cả chúng ta phải giống như nhau, Cũng cần khéo léo để nhận ra đúng lúc sự xuất hiện của ‘nỗi bực tức’ có thể ngáng trở tiến trình đối thoại. Chẳng hạn, nếu những cảm nghĩ gay gắt bắt đầu nổi lên, chúng phải được tương đối hóa để không làm gián đoạn mạch đối thoại. Điều quan trọng là khả năng nói lên những gì mình nghĩ mà không gây tổn thương cho người khác; cần phải lựa lời mà nói và lựa cách nói làm sao để được người kia chấp nhận cách dễ dàng hơn, nhất là khi thảo luận những vấn đề gay cấn; việc nêu những ý kiến phê bình của mình đừng bao giờ gắn với việc xả cơn giận như một hình thức trả thù, và tránh giọng điệu dạy đời chỉ cốt tấn công, châm chọc, tố cáo và gây tổn thương. Nhiều sự bất đồng giữa vợ chồng thực sự không phải là những chuyện vặt vãnh, nhưng điều làm thay đổi bầu khí chính là cách nói hay thái độ của người nói” (NVCTY số 139).
 
 
CN.4.MC.B
 
 
Chính ngày lễ thánh Giuse năm 1627,  hai cha Marquez và cha Alexandre de Rohdes đặt chân đến Cửa Bạng, Thanh Hóa. Sau 6 ngày lênh đênh trên biển cả, thuyền của hai cha gặp bão lớn. Suốt đêm chống chọi với cơn bão. Hai cha cầu nguyện. Sáng sớm ngày lễ thánh Giuse, thuyền hai cha cập vào Cửa Bạng bình an. Chẳng những thánh Giuse giúp thuyền vào bến bình an, mà còn giúp công việc truyền giáo của hai cha được kết quả ngòai sự mong ước.
Cha Alexandre de Rohodes , tên VN là Đắc Lộ, đã nói sỏi tiếng Việt. Cha đã ở Hội An 3 năm trước từ năm 1624-1627 và học tiếng Việt với cha Pina và chú bé người Cây Trâm, Tam Kỳ. Đặt chân lên bờ, cha Đắc Lộ mở miệng giảng đạo ngay. Chỉ trong hai tuần lễ cha đã rửa tội được 32 người. Trong số này cha kể cuộc trở lại ba người đặc biệt : một thầy đồ nho, một thầy cúng, và một đại gia. Đúng như nhận xét của cha Baldinotti về người Việt miền Bác vào năm 1626 như sau : “Tinh tình tốt lành, có nhiều thuần phong mỹ tục rất hợp với tinh thần đạo Công giáo, nếu có những vị thừa sai thông thạo tiếng nói của dân xứ, sẽ thu lượm được một mùa gặt phong phú” (Nguyễn Hồng, Lịch Sử  Truyền Giáo Ở VN, T.I, trang 94-97).
 
BTM : BTM thánh lễ hôm nay cũng kể cuộc trở lại của ông Nicôđêmô, một con người dễ thương và tốt lành. Ông thuộc nhóm Pharisêu, một thủ lãnh của người Do Thái. Người Pharisêu thường chống đối Chúa Giêsu. Còn ông lại yêu mến Chúa Giêsu. Thánh Gioan đã kể lại ba việc ông làm vì yêu  Chúa Giêsu :
1/ Một : ban đêm ông đến gặp Chúa Giêsu. Ông nói : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến. Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở trong người ấy” (Ga 3,2).
2/ Hai : trong một dịp lễ Lều, các người Pharisêu sai các vệ binh đi bắt Chúa Giêsu. Họ không bắt, họ còn nói : “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy !” (Ga 7,46). Các người Pharisêu liền mắng : “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pharisêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu ? Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa” (Ga 7,46-49). Ông Nicôđêmô lên tiếng bênh vực : “Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không ?” (Ga 7,51).
3/ Ba : trong việc tẩn liệm xác Chúa Giêsu, ông Nicôđêmô góp “một trăm cân một dược trộn với trầm hương” (Ga 19,39)
Nhưng quan trọng hơn hết là nội dung cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông. Chúa Giêsu đã cho ông biết về lòng thương xót của Thiên Chúa khi sai Con Một xuống cứu thế gian : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ”(Ga 3,16.17).
 
Bđ1 : Lòng thương xót  của Thiên Chúa thể hiện ngay trong biến cố dân Do Thái bị lưu đày ở Babylon, nước Irak ngày nay. Tuy phạt đi ưu đày 50 năm, nhưng sau đó Thiên Chúa lại tha. Thiên Chúa đã biến kẻ thù của người Do Thái thành bạn. Vua Kyrô, vua Babylon, chẳng những tha cho dân Do Thái trở về, mà còn cho tiền bạc để tái thiết lại đất nước quê hương. Sách Sử Biên Niên bđ2 kể :  “Kyrô, vua Ba Tư, phán thế này : ‘Đức Chúa, Thiên Chúa trên trời, đã ban cho ta mọi vương quốc dưới đất. Chính Người trao cho ta trách nhiệm tái thiết cho Người một Ngôi Nhà ở Giêrusalem. Vậy ai trong các ngươi thuộc dân của Người, thì xin Đức Chúa, Thiên Chúa của họ, ở với họ, và họ hãy tiến lên…!” (2Sbn 36,23)
 
Bđ2 : Thiên Chúa yêu chúng ta đến thế, nên thánh Phaolô đã ca ngợi trong thư Êphêsô  bđ2 : “Thiên Chúa giầu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2,4).
 
Ước gì những tuần lễ cuối cùng của Mùa Chay này, chúng ta xin thánh Giuse giúp chúng ta nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa với mỗi người chúng ta, và chúng ta cũng tỏ bày lòng thương xót với nhau
   Lm Giuse Nguyễ Trung Thành(18-3-2012).
.