Lễ Lá-B

Lễ Lá.B
Is 50,4-7; Pl 2,6-11
Mc 14,1-15.47

 Kết quả hình ảnh cho lễ lá năm b

Giáo huấn
 
Tình Yêu Hằng Ngày Của Chúng Ta
“Trong một bản văn tuyệt đẹp của Thánh Phao-lô, chúng ta gặp thấy một số nét của tình yêu đích thực :
Yêu thì nhẫn nhục,
nhân hậu,
yêu thì không ghen tương,
không vênh vang,
không tự đắc hay thô lỗ.
Yêu thì không cố chấp theo cách của mình,
không nóng giận,
không nuôi hận thù,
yêu thì không mừng khi thấy sự gian ác
nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Tình yêu bao dung tất cả
tin tưởng tất cả,
hy vọng tất cả,
chịu đựng tất cả” (1Cr 13,4-7), 
(NVYT, số 90, Lê Công Đức chuyển ngữ)
 
 
Lễ Lá.B
 
Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem là giai đoạn cuối đời của Chúa. Người đến để dự lễ Vượt Qua, và sẽ là lễ Vượt Qua của Người. Sau cuộc hành trình dài, từ Galilê, miền bắc, dọc theo thung lũng sông Gióc-đan, Người nghỉ chân một lúc tại một nơi không xa Giê-ri-khô. Đó là làng Bết-pha-ghê, có nghĩa là “nhà của những cây vả ”, ở phiá đông núi Cây Dầu, cách Giêrusalem không đầy 3 cây số. Từ đây Người lên Thành thánh. Chính Chúa Giêsu tổ chức cuộc khởi hành vào Giêrusalem.
Dấu hiệu của “người sai đi” : Chúa Giêsu đã “sai hai môn đệ đi trước”; vài ngày sau, Chúa cũng làm như thế, sai hai môn đệ đi sửa soạn bữa ăn lễ Vượt Qua.
Trong Cựu Ước, chính Thiên Chúa sai các ngôn sứ và sứ giả của Người; trong Tân Ước, Chúa Giêsu là người sai. Cử chỉ đầy mầu sắc thiên sai. Người loan báo một biến cố có tính cách thánh thiêng. “Hãy đi vào làng…Các anh sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ”(Mc 11,2).
Dấu hiệu của lừa con : ngôn sứ đã loan báo vua-thiên-sai cỡi lừa con. Ngôn sứ  Da-ca-ri-a (sách Tin Mừng thánh Gioan có trích dẫn) đã loan báo vua-thiên-sai đến với nhiều tính cách của một con người khiêm hạ và hòa bình, nổi bật nhất là cỡi  lừa con. Ngoài hình ảnh là một tôi tớ, thì đó còn là hình ảnh của một Mêsia khiêm hạ mà ngôn sứ đã tiên báo.
Lừa là con vật của những người  bình dân cỡi. Nhà giầu và nhất là các vị chỉ huy quân sự dùng ngựa. Vì vậy, Chúa Giêsu là một vị vua hòa bình. Vương quốc của Người không phải ở dưới trần và Người cũng chẳng có tham vọng thống trị.
     Lừa con chưa ai cỡi. Chúa Giêsu đã dùng đầu tiên. Mọi hoa qủa đầu mùa được hiến dâng cho Thiên Chúa. Sự chọn lựa này cũng mang một ý nghĩa. Con vật này chưa chở ai. Các môn đệ trải áo trên lưng lừa, để Chúa Giêsu ngồi. Dân chúng cũng bắt chước và trải áo trên đường (vào tháng 3-4, chắc chắn trời chưa nóng). Đó là cử chỉ trong ngày lễ lên ngôi vua ngày xưa. Sách Các Vua ghi lại : “Họ vội vàng lấy áo choàng trải lên đầu thềm cấp, dưới chân ông. Họ thổi tù và, rồi hô lên : ‘Giê-hu làm vua’” (2V 9,13).
Dấu hiệu của Chúa : “Nếu có ai hỏi : ‘Tại sao các anh làm như vậy’, thì cứ nói là Chúa cần đến nó” (3). Đây là lần đầu tiên và duy nhất thánh Máccô gọi Đức Giêsu là Chúa. Cử chỉ bất thường này bộc lộ ý định của Chúa Giêsu : Người chiều theo lòng nhiệt thành của dân chúng, chấp nhận là vua, là thiên sai, là một ngôn sứ lớn. Người muốn được công nhận như vậy. Giờ của sự thật đã điểm. Người là Chúa. Người chẳng còn gì để mất nữa. Từ biến cố Ladarô sống lại, các kẻ thù đã quyết định giết Người.
Dân chúng đã tung hô Chúa bằng những lời trong thánh vịnh 118, thánh vịnh được hát trong lễ Lều. Người ta đi kiệu trong Đền thờ, tay cầm cành lá vạn tuế, khẩn nài Thiên Chúa, Đấng cứu độ ( ý nghĩa đầu tiên của từ Hosannah là “xin ban ơn cứu độ, xin giải thoát”), cùng nhắc lại những lời Đấng Thiên sai hứa xuống cắm lều ở với dân của Người (nơi thánh Matthêu : “Hosannah Con vua Đavít”, thánh Luca : “Chúc tụng vua, đấng nhân danh Chúa mà đến”, thánh Gioan : Chúc tụng vua Israel”.
Dấu hiệu của cành vạn tuế : Cuộc rước từ sườn núi Cây Dầu vào Thành thánh (theo thánh Luca, Chúa Giêsu vào trong Đền thờ, để nói lên rằng sứ mạng của Người có tính cách tôn giáo). Dân chúng hoan hô với nhũng cành lá được hái nơi cánh đồng. Bầu khí thiên sai. Sách Tin Mừng thánh Gioan cho chúng ta biết nguyên nhân của lòng nhiệt thành này : “Họ là những người đã có mặt, khi Đức Giêsu gọi anh Ladarô ra khỏi mồ và làm cho anh trỗi dậy từ cõi chết. Sở dĩ dân chúng đi đón Người, là vì họ nghe biết Người đã làm dấu lạ đó” (12,17-18). Đấng họ tung hô chính là Đấng đã chiến thắng thần chết.
Giáo hội đã không quên ghi chú này của thánh Gioan mỗi khi kỷ niệm cuộc khải hoàn vào thành Giêrusalem của Chúa. Giáo hội không cử hành một cách đơn giản. Những cành lá vạn tuế mang hai ý nghĩa : chúng biểu lộ niềm tin vào vương quyền của Chúa Kitô và niềm tin vào sự sống lại.
Nếu mọi dân tộc và mọi tôn giáo nhận ra ý nghĩa của sự sống và đổi mới nơi cành vạn tuế xanh tươi, thì Giáo hội cũng nhận ra ý nghĩa của sự sống vượt qua biên giới của sự chết. Ý nghĩa này được cảm nhận trong nhiều tôn giáo. Các tín hữu, trong ngày lễ Lá này, đã đặt những cành lá làm phép trên mộ của những người qua đời (Monique Piettre, Comprendre La Parole, Année B, O.E.I.L 1985)
   Lm Giuse Nguyễn Trung Thành(2018)