Khám phá Ai Cập của thiên chúa giáo

Khám phá Ai Cập của thiên chúa giáo 

 

 
POSTED BY PHẠM LLILY ON 09:41 
Khám phá Ai Cập dưới khía cạnh tôn giáo, bạn đã thử chưa? Nói đến Ai Cập, du khách ngay lập tức nghĩ đến kim tự tháp và những xác ướp Ai Cập. 70% du khách đến đây để chiêm ngưỡng những kim tự tháp thách thức thời gian nhưng nếu chỉ có như vậy thì bạn đang bỏ phí cơ hội khám phá 80% vẻ đẹp tiềm ẩn khác của Ai Cập. Quốc gia này còn có những kho báu văn hóa khác mà chỉ có những ai thực sự chịu khó tìm tòi thì mới có thể thấy được. Đó là Ai Cập của những đụn cát sa mạc, của những bãi biển đẹp mê hồn dọc theo biển Đỏ, của một lịch sử tôn giáo ngàn năm phức tạp những cũng rất ly kỳ, và cuối cùng, của con sông Nil huyền thoại…Tôi đến Ai Cập được hai lần, một lần vào năm 2009 với tư cách là trưởng đoàn một nhóm du lịch Pháp và lần thứ hai vào năm 2011 với tư cách là một phượt tử xẻ dọc Trung Đông. Trong bài viết này, tôi chỉ tập trung vào chuyến đi đầu tiên vào năm 2009, một kỷ niệm khó quên vì đó là lần đầu tiên trong đời tôi đặt chân đến một quốc gia Hồi giáo của Bắc Phi. 

Các bạn sẽ thắc mắc hoàn cảnh nào khiến tôi trở thành một trưởng đoàn dẫn 10 khách Pháp đến xứ Ai Cập, quá may mắn phải không? Nhưng cái may mắn đó bắt nguồn từ nỗ lực không ngừng để có thể được xin thực tập vào một công ty lữ hành của Pháp. Học đường của tôi không giống như bất cứ sinh viên Việt Nam nào trên đất Pháp. Thay vì chạy đua theo học những ngành kinh tế, tài chính, tin học, hay kiến trúc đang rất thịnh hành và được ưa chuộng bởi các bạn trẻ Việt Nam vào thời điểm 2003-2008, tôi lại chọn hướng đi riêng cho mình. Tôi quyết tâm theo đuổi ngành khoa học xã hội nhân văn để rồi chuyển tiếp sang ngành quản trị kinh doanh du lịch và leo lên bậc thạc sĩ. Vận may đã đến với tôi khi được tuyển vào công ty Ictus Voyages, một doanh nghiệp lữ hành chuyên tổ chức các tour du lịch hành hương thiên chúa giáo đến các quốc gia có lịch sử phát triển tôn giáo lâu đời, trong đó có Ai Cập. Sự miệt mài cầu tiến của tôi đã được đền đáp khi sếp tin tưởng giao phó trọng trách tháp tùng một nhóm khách ruột trong vòng 8 ngày đến xứ sở của các Pharaon. 

Có thể nói thời gian một năm làm việc cho Ictus Voyages là một điều kiện quá lý tưởng cho phép tôi đặt một chân vào thế giới Hồi giáo, một điều mà trước đó chưa bao giờ tôi nghĩ đến. Nói đến Hồi giáo là nói đến khủng bố hoặc những người phụ nữ phủ khăn kín mặt hoặc một nền văn hóa cực đoan. Thế nhưng đó chỉ phản ánh một phần của nền văn hóa các quốc gia thuộc Hồi giáo ở Trung Đông. Chuyến đi đầu tiên đến Ai Cập đã khơi dậy sự tò mò trong tôi, thúc đẩy tôi phải tìm hiểu nhiều hơn nữa khu vực này. Tôi tự nghĩ có lẽ mình đã có quá nhiều đánh giá sai lệch về xứ sở Pharaon. 

Như đã nói ở trên, Ictus Voyages chuyên tổ chức tour du lịch tâm linh nên chuyến đi đến Ai Cập khó có thể tránh khỏi khía cạnh tôn giáo và đặc biệt là khía cạnh khám phá văn hóa. Những vị khách thuộc dòng du lịch này thông thường rất am hiểu thiên chúa giáo và có một nền tảng kiến thức đáng nể. Phần lớn trong số họ là bậc trung niên nên không quá ngạc nhiên khi họ có những kiến thức và trải nghiệm cao hơn so với những du khách 20-40 tuổi. Gián tiếp, họ có những đòi hỏi cao đối với người trưởng đoàn từ phía công ty lữ hành, đặc biệt là về sự hiểu biết về điểm đến. Đó là một sức ép khiến tôi gặp nhiều vấn đề về tâm lý khi nhận lời dẫn tour từ vị sếp của mình. Nhưng thật may mắn là những thành viên của tour này đều là những vị khách quen thuộc của công ty và họ đã được thông báo trước là sẽ có một anh bạn trẻ người Việt Nam 100% tháp tùng đoàn. Điều này làm cho họ có sự chuẩn bị tâm lý, đòi hỏi ít hơn đối với người ngoại quốc và một số thậm chí còn cảm thấy thú vị bới chẳng mấy khi có người ngoại quốc đủ tự tin giáp lá cà với khách hàng như vậy.

Trước chuyến đi, tôi đã có một sự chuẩn bị kiến thức cực kỳ kỹ lưỡng. Thực ra, những kiến thức của tôi về Ai Cập nói riêng và Trung Đông nói chung hay những kiến thức tổng hợp về tôn giáo là kết quả của một sự trau rồi không ngừng nghỉ trong suốt giai đoạn 2004-2010 chứ không phải chỉ là mấy tuần tập trung ngấu nghiến mấy quyển sách. Nếu như tôi lôi thêm mấy cuốn sách dày cộp về lịch sử thiên chúa giáo của Ai Cập cũng chỉ là một hành động mang tính tự khích lệ tinh thần cho cảm giác an tâm.

 

Hành trình 8 ngày đến Ai Cập chỉ gói gọn ở phía bắc bởi đây chính là cái nôi sinh ra các dòng tu viện thiên chúa giáo đầu tiên của lịch sử. Đây là điều đầu tiên khiên nhiều ngươi ngạc nhiên bởi khi nói đến thiên chúa giáo thì người ta nghĩ ngay đến Châu Âu chứ mấy ai dám nghĩ đến Ai Cập, một quốc gia Hồi giáo. Ấy vậy mà giai đoạn đầu của thiên chúa giáo lại bắt nguồn từ chính xứ sở Pharaon, với nhiều biến động phức tạp.  Đoàn của chúng tôi đến đây để tìm lại dấu vết của lịch sử, để tìm hiểu một dòng tu khá khác người với cái tên Coptic và để hiểu quá trình hình thành của dòng tu này cũng như nguồn gốc của sự xung đột tôn giáo giữa cộng đồng thiên chúa và Hồi giáo giữa lòng Ai Cập ngày nay.

 Sau khoảng 3 tiếng bay từ Paris với hãng hàng không Egyptair, chúng tôi đáp đến Cairo vào một mùa xuân tháng 4 khá đẹp trời. Chặng đường chuyển tiếp từ sân bay vào trung tâm Cairo giống như một lời mào đầu báo hiệu chúng tôi đã đến Ai Cập, xứ sở của hệ thống giao thông…khá giống Việt Nam. Tại thủ đô 15 triệu dân, không khó để có thể đoán ra số lượng ô tô lớn như thế nào và tầm nghiêm trọng của ô nhiễm không khí. Nhưng chúng ta hãy tạm gách chuyện đó sang một bên. Điều làm tôi nhớ nhất chính là ý thức chấp hành giao thông công cộng của người dân thủ đô Cairo khá là đặc biệt.   

Một Hai Ba.....cả nhà cùng qua đường nào

  Bạn hãy cứ tưởng tượng ở Hà Nội xe máy là vua và cứ vượt ẩu lên khiến cho đường phố nhiều khi ách tắc. Tại thủ đô Cairo, ban thay xe máy bằng ôtô. Nhóm khách Pháp không khỏi ngạc nhiên khi lần đầu tiên trong đời họ chứng kiến cảnh tượng hỗn loạn của giao thông. Nhưng với tôi, đó không phải là một cú sốc lớn vì bản thân mình sinh ra và trưởng thành trong một quốc gia mà người dân có ý thức giao thông kém tương tự. 

 Sự hỗn loạn ở Cairo có phần khác ở Hà Nội. Thứ nhất, tôi thấy các xe ôtô ở đây nhiều khi chạy nguy hiểm hơn. Có mấy đồng chí tài xế thậm chí tự dưng dừng ở ngay trước mũi các xe phía sau để sửa động cơ, và sau đó thản nhiên chạy tiếp với chiếc mui xe quên không dập xuống. Giữa các làn xe dài ngoằng, việc bắt gặp lác đác mấy đồng chí xe kéo bằng lừa không phải là chuyện hiếm. Lại nói đến các vị đi đường, phải công nhận là ngả mũ bái chào! Họ còn dũng cảm hơn cả người Việt Nam mình, dám ngang nhiên băng qua đường cao tốc 4 làn giữa các dòng xe đang chạy ở tốc độ cao. 

 

Đúng như chương trình, chúng tôi bắt đầu cuộc khám phá thủ đô bằng khu phố được cho là cổ nhất với cái tên Masr el-Qadima. Khu phố này còn có một tên gọi khác là Coptic Quarter, có tên như vậy vì đây vốn dĩ là khu phố có động đồng thiên chúa giáo lớn nhất Ai Cập. Lịch sử phát triển của cộng đồng này khá phức tạp nhưng để nói gắn gọn, họ sống rất khép kín với thế giới bên ngoài. Điều này cũng dễ hiểu bởi đã từ hơn 1000 năm nay, sự chung sống giữa thiên chúa giáo và đạo hồi chưa bao giờ diễn ra suôn sẻ. Từ những cuộc thập tự trinh thời trung cổ đến những viên đại bác của quân đội Napoléon, từ những sung đột quân sự giữa Israel với láng giềng ảrập, và mới đây nhất là can thiệp của Mỹ ở Trung Đông. Sự chõ mũi của phương Tây thiên chúa giáo gián tiếp khiến cho xung đột tôn giáo giữa cộng đồng Coptic và hồi giáo giữa lòng Cairo ngày cảng trở nên căng thẳng hơn. Lo sợ bị trả thù hoặc tấn công, cộng đồng thiên chúa giáo ở đây buộc phải sống chui lủi. 

phong cách ăn mặc của các giáo sĩ thiên chúa giáo ở Ai Cập rất đặc trưng với việc mặc áo đen phủ kín và chiếc mũ chụp đầu
 

Nếu như chỉ là một vị khách du lịch lẻ thuần túy, rất khó để có thể hiểu hết được những chi tiết phức tạp về cuộc sống của tín đồ coptic tại đây. Nhưng nhờ vào chuyến tour này, với sự dẫn dắt khá chuyên nghiệp của cậu hướng dẫn viên địa phương (cũng theo đạo thiên chúa luôn), từng nút thắt lịch sử đã được tháo gỡ và những con đường nhỏ lắt léo của khu phố Masr el-Qadima dần mở ra những bi mật trước mắt chúng tôi

Nguồn gốc của khu phố này xuất phát từ thời kỳ La Mã. Đến đây, cần phải nói thêm là đế chế La Mã vào những thế kỷ 1-4 sau Cn rất rộng lớn, bao gồm tất cả các quốc gia xung quanh Địa Trung Hải trong đó có Ai Cập. Đồng chí nào mà chơi trò Age of Empires thì chắc sẽ biết điều này. Thủ đô Cairo hồi ấy là thủ đô của một tỉnh của La Mã. Họ cho xây hệ thống tường thành bao bọc khu đô thị đầu tiên, nơi mà sau này trở thành khu phố Masr el-Qadima. Sau khi chúa Jesus chết đi, đạo thiên chúa phát triển khá nhanh tại Trung Đông và lan sang Ai Cập. 

  Thế nhưng đạo thiên chúa giáo là một cái gai nguy hiểm trong mắt đế chế La Mã bởi họ lo sợ rằng sự phát triển quá mạnh mẽ cúa thiên chúa giáo sẽ cạnh tranh với truyền thống thờ các vị thần La Mã (thần Zớt, thần mặt trời, thần chiến tranh, …). Vì thế, quân đội La Mã liên tiếp tiến hành truy quét và tử hình các tín đồ thiên chúa giáo. Thời ấy, theo đạo thiên chúa giáo đồng nghĩa với phản động chính trị, đáng tội tử hình. Cộng đồng thiên chúa giáo đã phải sống chui lủi ngay giữa lòng thủ đô Ai Cập đầy rẫy toán quân canh gác La Mã. Các tín đồ thiên chúa giáo âm thầm tụ họp với nhau vào ban đêm để cùng nhau cầu nguyện và cho xây những công trình kiến trúc thiên chúa giáo đầu tiên. 

Nếu tinh mắt để ý, bạn sẽ phát hiện ra khá nhiều yếu tố minh chứng cho sự hiện diện của thiên chúa giáo giữa lòng thủ đô Cairo. Ví dụ như chiếc đèn đường này có dấu cộng biểu tượng của thiên chúa giáo

Danh từ Coptic sinh ra vào những thế kỷ 3-4 sau CN. Danh từ này bắt nguồn từ ngôn ngữ Hy Lạp cổ, ám chỉ đơn thuần là “Ai Cập”. Như vậy, Coptic nói nôm na là tín đồ thiên chúa giáo sống ở Ai Cập. Mặc cho những biến động của lịch sử, đặc biệt là làn sóng Ảrập hóa và Hồi hóa xảy ra suốt từ thế kỷ 8 đến 20, cộng đồng Coptic vẫn đấu tranh cho sự tồn tại của mình. Theo các con số thống kê, ngày nay có khoảng 3,5 triệu người Ai Cập theo đạo thiên chúa giáo, chiếm khoảng 6% tổng dân số. 

sống chui lủi đằng sau những ngôi nhà lụp sụp này là một cộng đồng thiên chúa giáo. Hãy nhìn vào chiếc cửa sổ vẫn còn treo ảnh của một vị thánh hay các pho tượng nhỏ trên song sắt bên phải. Người dân tuy nghèo nhưng vẫn cố gắng tự trang bị cho mình những vật dụng tối thiểu để thể hiện sự sùng đạo của họ

Nếu như có ai đó hỏi trong số vài chục triệu dân Ai Cập ngày nay, với bao làn xóng di cư và pha trộn sắc tộc, ai là người thuần máu Ai Cập nhất. Câu trả lời không phải là những người Ai Cập theo đạo hồi giáo, mà lại là những người thiểu số theo đạo thiên chúa giáo. Chính họ mới là hậu duệ trực tiếp từ tổ tiên là những người dân Ai Cập dưới sự trị vì của Pharaon vài ngàn năm trước. Với thâm niên lịch sử tồn tại lâu đời hơn rất nhiều so với đạo hồi, nhưng trớ trêu thay, cộng đồng thiên chúa giáo ở đây không được chấp thuận như một phần của nền văn minh Ai Cập. 

Du khách quá quen với hình ảnh một Ai Cập của những pharaon. Nhưng rơi vào thế giới của khu phố Coptic, đồ lưu niệm ở đây không có nhiều thứ gợi nhớ đến Pharaon mà chủ yếu đề cập đến các vị thánh của thiên chúa giáo

Có vẻ như người ta đã quá quen với việc Ai Cập và đạo Hồi là một. Thiên chúa giáo bị cho là một sự sỉ nhục, một quá khứ của kẻ thua cuộc chịu áp bức của cường quốc phương Tây. Chính vì thế, cộng đồng coptic ở Ai Cập bị cho là một phần tử ngoại đạo. Thực tế cho thấy những người theo đạo thiên chúa luôn là nạn nhân của chế độ phân biệt đối xứ, nhiều người bị hành hung, ám sát, bắt cóc. Chuyện các nhà thờ thiên chúa giáo bị đốt cháy, tấn công hoặc cướp bóc xảy ra như cơm bữa và có vẻ như chính quyền Ai Cập (đa số là dân theo đạo hồi) cũng làm ngơ như không có chuyện gì xảy ra.

Minh chứng đầu tiên cho thấy bề dày lịch sử của cộng đồng thiên chúa giáo Ai Cập chính là pháo đài Babylone trong tình trạng phế tích, được xây dựng và kiên cố dưới thời La Mã. Sau khi người ả rập chinh phục được toàn bộ Ai Cập vào thế kỷ thứ 6 sau CN, họ đổi tên pháo đài này thành Qasr ash-Sham’a, trong tiếng ả rập có nghĩa là “pháo đài bằng xi”. Ngay trước khi người ả rập đến đây, cộng đồng thiên chúa giáo đã phát triển rất mạnh nhưng luôn dưới tình trạng chui lủi. Và lạ thay, chỉ sau khi người ả rập và Hồi giáo thống lĩnh Ai Cập thì phần lớn các nhà thờ thiên chúa giáo mà ta thấy ngày nay mới được xây dựng. Điều thú vị nữa phần lớn các công trình này nằm chễm chệ trên đỉnh của hệ thống pháo đài Babylon theo dòng thời gian đã bị lún xuống đất

 Nổi tiếng nhất trong số các công trình này là nhà thờ al-Moallaqa, với biệt danh “nhà thờ treo lơ lửng”, lý do là vì được xây ngay trên đỉnh của cổng vào pháo đài Babylon.  

trái với các nhà thờ thiên chúa giáo ở Tây Âu, phần bên trong của nhà thờ này không hoành tráng bằng và sử dụng gỗ như là vật liệu xây dựng chủ yếu. Nhưng không vì thế mà làm mất đi sự tinh xảo trong nghệ thuật điêu khắc.
 

Sau một buổi sáng khám phá thế giới của cộng đồng thiên chúa giáo, chúng tôi bước sang một giai đoạn khác của Cairo, giai đoạn của thế giới Hồi giáo. Để hiểu được tính Hồi giáo của thủ đô, lại phải quay lại thế kỷ thứ 7 sau CN. Sau khi Mohamed (người sáng lập ra đạo Hồi) qua đời, các đệ tử của ông tiến hành một quộc chinh phục và truyền bá đạo lớn chưa từng có trong lịch sử. Một bên là tôn giáo, bên khác là bạo lực, vó ngựa  ảrập tràn sang Bắc Phi và Trung Đông trong suốt giai đoạn từ thế kỷ 7 đến 10. Ai Cập là một trong những nạn nhân đầu tiên của cuộc chinh phạt này. Vào thế kỷ thứ 10, Ai Cập chính thức công nhận đạo hồi là quốc giáo và nhân dịp đó, chính quyền hồi giáo ở đây thành lập khu phố mới, nằm chếch phía bắc của khu phố Masr el-Qadima, với cái tên Al Qahira (trong tiếng ả rập có nghĩa là “chiến thắng”), sau này cải biên đi và trở thành Cairo. Như vậy, có thể nói rằng cái tên chính thức Cairo chỉ được sinh ra vào thế kỷ thứ 10. Bắt đầu từ cột mốc lịch sử này, hàng loạt công trình kiến trúc hồi giáo được xây nên, tạo ra 70% hình cảnh của một thủ đồ hồi giáo ngày nay. Với vị thế là trung tâm hồi giáo của Trung Đông trong vòng vài trăm năm, hàng loạt nhà thờ hồi giáo tráng lệ được xây lên, và đó là lý do vì sao người ta gán cho thành phố này biệt danh “thành phố của ngàn lẻ một nhà thờ hồi giáo”. 

  Khi tôi nhìn bao quát toàn cảnh thủ đô với hàng trăm tháp chuông hồi giáo, tôi đã phải thốt lên : “Woah! Sao mà giống trong truyện Aladin và cây đèn thần thế”. Bạn hãy tưởng tượng một ai đó đang dùng thảm bay để du ngoạn và lướt giữa nhũng tòa tháp chuông cao chót vót. 

 

Chưa cần phải tận mắt nhìn các công trình kiến trúc hồi giáo, bạn chỉ cần rỏng tai lên là đã có thể cảm nhận thấy thế giới hồi giáo giữa lòng thủ đô. Thật vậy, theo truyền thống, các chiếc loa của thành phố phát thanh kêu gọi tín đồ đến giờ cầu nguyên (5 lần một ngày). Cứ mỗi khi nghe thấy tiếng này, hàng loạt người dân thủ đô dừng lại ngay giữa đường và quỳ xuống cầu nguyện. 
 

Lạc vào khu phố hồi giáo của Cairo là lạc vào thế giới trung cổ của những thế kỷ 13-16, thời kỳ đỉnh cao của thành phố. Lạc vào những mê cung ngõ ngách như thể bạn đang sống trong câu truyện ngàn lẻ một đêm.  Chỉ có một điều mà tôi thấy hơi tiếc khi phải đi với đoàn này, đó là việc thời gian hạn hẹp và bị gò bó vào chương trình đã định sẵn, Trong khu phố hồi giáo, chúng tôi chỉ có thể thăm khu chợ Khan El Khalili và một nhà thời hồi giáo. Từng ấy thì chỉ tiêu biểu cho 30% những điểm tham quan đáng xem ở đây. Chưa giải tỏa được cơn khát khám phá, đó là lý do vì sao tôi vẫn phải quay lại thủ đô Cairo lần thứ hai vào năm 2011, để có thể khám phá nốt những bí ẩn còn ẩn nấp trong 70% còn lại.  

Quay trở lại với chuyến viếng thăm khu phố hồi giáo, chúng tôi chỉ tập trung thăm những gì được cho là tinh túy nhất của khu vực này. Điểm đến đầu tiên là nhà thờ hồi giáo Al-Azhar, công trình kiến trúc tôn giáo được cho là cổ nhất Trung Đông. Được xây từ thế kỷ 10 sau CN, công trình này còn là trường đại học cổ nhất Trung Đông, xứng danh với chính tên gọi của nó. Trong tiếng ả rập, Azhar có nghĩa là “tỏa sáng”, sự tỏa sáng của một trung tâm Hồi giáo. Vào thời trung cổ, có đến 140.000 sinh viên và 500 giảng viên đến đây để nghiên cứu các môn như tôn giáo, y, học và toán học.

Từ bên ngoài nhìn vào, Al-Azhar trông có vẻ đơn giản với những bức tường bao phủ mộc mạc
nhưng khi vào bên trong, bạn lạc vào một thế giới khác với một khoảng không rất lớn ở chính giữa.

  Thực ra, vào giai đoạn thế kỷ 10-13, không chỉ có mình Al-Azhar đóng vai trò quan trọng trong thế giới Hồi giáo, vẫn còn đó Badad (Irak), Fes (Marốc), Cordoba, Sevilla (Tây Ban Nha) hay Damascus (Syria). Nhưng những biến động của lịch sử đã đứng về phía Ai Cập và biến Al-Azhar thành nơi tụ tập “anh hùng hảo hán” tứ xứ. Thật vậy, thế kỷ 13-14 không phải là giai đoạn vui vẻ gì với thế giới hồi giáo. 

 Vó ngựa của quân đội Thành Cát Tư Hãn hoành hành ở Trung Á khiến cho Irak sụp đổ. Còn các tiểu vương quốc ả rập tại Tây Ban Nha lần lượt bị thôn tính bởi liên minh các quốc gia Châu Âu theo thiên chúa giáo. Điều đó khiến cho hầu hết các nhà thông thái và tầng lớp trí thức Hồi giáo phải chạy tị nạn sang Ai Cập. Al-Azhar nhiễm nhiên trở thành nơi chào đón nhân tài tứ xứ và kể từ thế kỷ 14 nắm vai trò gần như độc quyền về giảng dạy và nghiên cứu những bộ môn khoa học liên quan đến Hồi giáo. 

Khu cầu nguyện bên trong. Theo truyền thống Hồi giáo, các tín đồ luôn quỳ hướng về phía thành phố Mecca (Ảrập Xê Út) nơi thánh Mohamed sinh ra
Chiếc cổng sát tường này cũng là nơi để tín đồ quỳ xuống cầu nguyện. Phần lõm vào là phần hướng về thành phố Mecca, một kiểu cấu trúc đặc trưng tại bất của nhà thờ Hồi giáo nào trên thế giới

 Al-Azhar vào những thế kỷ 16-17 là trung tâm giao lưu văn hóa giữa các sinh viên đến từ nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Malaysia và Indonesia (nên nhớ Indonesia là quốc gia đông dân hồi giáo nhất thế giới với 120 triệu người). Al-Azhar là một trong số hiếm nhà thờ Hồi giáo cho phép người không phải là đạo hồi được vào thăm. 

 

 Đúng với vị thế là một trường đại học danh tiếng, có rất nhiều sinh viên trẻ đang ôn bài hoặc cầu nguyện ở đây. Thông thường, tại các trường đại học ở Ai Cập, tiếng Anh được giảng dạy khá đại trà với chất lượng khá tốt. Vì thế, mặt sàn tiếng Anh của các sinh viên Ai Cập nhỉnh hơn so với các quốc gia Hồi giáo lân cận. 

 Nếu như  bạn tình cờ bắt chuyện với cậu sinh viên nào bập bẹ tiếng Anh thì rất có khả năng cậu ta xuất thân từ Irak, Syria, Jordan và đến đây du học. Tất nhiên, đó chỉ là một trong những mẹo vặt để phân biệt người dân ở các quốc gia Hồi giáo. Còn nếu chỉ nhìn qua khuôn mặt thì thật là khó đoán.

Al-Azhar sở hữu các tòa tháp chuông Hồi giáo mà chúng ta có thể leo lên và tận hưởng một góc nhìn toàn cảnh thủ đô

 Bữa trưa của chúng tôi được phục vụ trong một nhà hàng truyền thống nằm trong trung tâm khu phố cổ với cái tên Naguib Mahfouz, một cố nhà văn lừng danh đã từng được giải nobel văn học. Đây là một cơ hội để khám phá ẩm thực Ai Cập, cho dù không phải các món được phục vụ trong nhà hàng này đều 100% thuần chất bản địa. 

 Cũng phải thôi, trong một nhà hàng dùng để phục vụ khách Âu, chắc chắn sẽ phải sử dụng phương pháp nấu ăn biến tấu một chút để phù hợp khẩu vị của khách du lịch. Chúng tôi ăn trưa vào lúc 12h, không phải là giờ ăn trưa phổ biến ở Ai Cập. Thật vậy, thông thường người bản địa ăn trưa muộn hơn vào lúc 15h và ăn tối cũng muộn hơn vào tầm 20h.  Nếu như người Việt chúng ta ăn cơm là chủ yếu thì người Ai Cập dùng bánh mì như là thứ để lót dạ và căn kèm với rất nhiều món ăn phụ.  Trái với người Việt, cấu trúc bữa ăn truyền thống của Ai Cập chịu rất nhiều chi phối của đạo Hồi. 

Tại đất nước này, thịt lợn và thức uống có cồn bị cấm mặc dù có thể mua một cách chui lủi ở một số cửa hàng. Vì thế, người Ai Cập phải chọn các loại thịt khác như gà, bò, bê, cá…đây là một luật chung cho đại đa số các quốc gia Hồi giáo nên cho dù bạn có sang Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Marốc, Ấn Độ, Malaysia hay Indonesia thì cũng sẽ gặp phải những điều kiêng kỵ như thế này. Tôi còn nhớ sau này có lần bắt gặp một cậu người Mỹ trong một lần đi phượt ở Hy Lạp. Cậu này là giảng viên của một trường đại học ở Cairo và cậu ta than thở về những ngày tháng phải chui lủi uống vài chai bia hoặc lùng sục những quán bar có bảo kê để được nhâm nhi những ly rượu whisky hoặc thậm chí lảng vảng ở những nhà thổ. Có thể mới biết, cho dù là ở đâu, cho dù có những cấm đoán đến đâu, nghề gái điếm vẫn luôn tồn tại bởi nó phục vụ cho nhu cầu sinh lý tất yếu của con người cho dù đó là một người Hồi giáo cực đoan nhất thế giới

 

Chúng tôi kết thúc buổi khám phá đầu tiên bằng chuyến viếng thăm khu chợ Khan El Khalili, thuộc dạng cổ nhất và lớn nhất của Trung Đông. Không có nhiều sự khác biệt về mặt không gian giữa những gì bạn đang chứng kiến trước mắt và cuộc sống đời thường của người dân những thế kỷ 14-15. Có chăng thì chỉ khác biệt về các loại mặt hàng và phương tiện đi lại. Thực ra ở một số quốc gia khác thuộc khối hồi giáo ở Trung Đông và Bắc Phi cũng sở hữu khu chợ cổ kiểu này nhưng nói chung chúng đều có cấu trúc giống nhau. Có nơi thì người ta gọi là bazaar (Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ), nhưng đa phần người ta gọi là souk (Marốc, Tunisia, Algeria, Syria…). Trong tiếng Anh, người ta hay gọi Khan El Khalili là “Turkish Bazaar”. Tại sao lại có Thổ Nhĩ Kỳ ở đây? Theo đánh giá của tôi, lý do là vì Ai Cập vào những thế kỷ 15-19 là thuộc địa của để chế Ottoman (tiền thân của Thổ Nhĩ Kỳ). Đế chế này hồi ấy rất rộng nên cứ khi nào người phương Tây thời đó nghĩ đến Trung Đồng là lấy Thổ Nhĩ Kỳ làm thước đo chuẩn. Cũng giống như người phương Tây ngày nay cứ nhìn thấy dân da vàng mắt híp thì gán cho họ cái mác Trung Quốc. Món tắm nước nóng hammam cũng vậy, tôi thấy có ở rất nhiều quốc gia hồi giáo nhưng trong tiếng Anh người ta cứ gán cho cái tên “Turkish bath”. 

 Ngay sau khi được thành lập vào thế kỷ 14, Khan El Khalili trở thành nút thắt thương mại quan trọng nhất, nối giữa Ấn Độ và Địa Trung Hải. Những tuyến đường vận chuyển các mặt hàng xa xỉ (kim cương, ngũ vị hương, nước hoa…) đều phải qua Cairo trước khi cập bến các quốc gia Châu Âu (Ý, Hy Lạp, Tây  Ban Nha…). Cairo nhờ đó chiếm vị thế độc quyền về các loại mặt hàng này và toàn quyền quyết định về giá. Điều này không được lòng các thành phố cảng Châu Âu lúc bấy giờ và các quốc gia phương Tây buộc phải tìm kiếm những con đường thương mại mới để tránh không phải qua cửa ải Ai Cập. Đây chính là một trong những nguồn gốc sâu xa tạo nên những làn sóng tìm kiếm vùng đất mới đầu tiên trong lịch sử với những chiến công hiển hách của những  Christoph Columbus, Magellan, Vasco De Gamma thế kỷ 15-16 

 Là một trong những biểu tượng hút khách nhất Cairo, không quá ngạc nhiên khi thấy biển người và khách du lịch ở đây. Người ta đến Khan El Khalili không phải chỉ để ngắm nghía các công trình kiến trúc cổ mà chủ yếu là để trải nghiệm một không gian sống khó quên. Người ta đến đây là để cố tình bị lạc vào mê cung của những con ngõ nhỏ ngoắt nghéo, của những căn nhà cổ lụp xụp, để ngửi thấy hương vị của các loại vị hương nấu ăn. Tại đây, có lẽ không nên áp dụng phương pháp nhìn bản đồ để tìm đưởng bởi đơn giản là ở đây…không có bản đồ. Đường thì ngoằn nghèo và rất nhiều con đường chỉ ghi tiếng ả rập, có mà tìm bằng mắt. 

  Ngay từ khi bước chân vào những ngõ ngách đầu tiên, bạn lập tức bị cuốn trôi theo dòng người đa quốc gia là ty tỷ các loại hàng hóa. Vào thời trung cổ, đây là trung tâm trao đổi thương mại lớn nhất Trung Đông. Các phái đoàn thương nhân từ vùng vịnh Irak và tiểu vương quốc ả rập đến đây mua hàng đến từ Địa Trung Hải (rượu vang, dầu ôliu, ngũ cốc…) và Ai Cập (vàng, kim cương) đổi lại những thứ xa xỉ như hương trầm, nước hoa hoặc đồ da thuộc. Ngày nay, nhu cầu trao đổi buôn bán đã thay đổi nhiều. Vẫn là trao đổi thương mại, nhưng chủ yếu là giữa người Ai Cập và khách du lịch. 

 Có rất nhiều mặt hàng bắt mắt mà du khách có thể mua và nhân tiện đây cũng phải nói rằng người Ai Cập rất biết cách moi tiền của khách. Sau này, tôi có thăm các khu chợ khác ở Thổ Nhĩ Kỳ, Marốc, Syria nhưng phải nói rằng người Ai Cập có phần nhỉnh hơn về khả năng moi tiền. Mặc cả mua bán ở đây không khác nhiều lắm so với nền văn hóa mặc cả của Việt Nam, vân cái kiểu nói thách giá rồi mặc cả giá. Bạn càng hỏi mua ở những gian hàng có nhiều khách du lịch thì giá càng cắt cổ. Ngược lại, nếu bạn chịu khó chấp nhận mạo hiểm đi sâu vào những khu không có mấy khách du lịch thì người bán sẽ nói thách ít hơn và cán cân mặc cả sẽ nghiêng về bạn nhiều hơn. Tại sao vậy? Bởi vì khi một gian hàng đã quá quen sự có mặt của du khách đặc biệt là Tây, họ sẽ dần dần học được cách lùa hội “gà” này vào bẫy . Với tư tưởng Tây có hầu bao xông xênh, họ không ngại gì nói thách giá cao gấp 4-5 thậm chí là 10 lần giá thực tế. Ngược lại, ở những gian hàng ít có du khách, người bán biết rằng họ không có cơ hội bán được hàng nên dễ chấp nhận mức giá bạn đưa ra hơn. Chỉ có một điều là không có mấy du khách dám bén mảng đến những gian hàng kiểu này với tâm lý đi vào một mình thì sẽ bị “chăn”.  

Đó là câu chuyện của du khách phương Tây. Còn đối với những du khách Châu Á sinh ra và lớn lên trong môi trường lúc nào cũng phải mặc cả như chúng ta, việc phải mua bán mặc cả trên đất Ai Cập có lẽ không gây quá nhiều ngạc nhiên. Chỉ có điều trong việc mua bán ở đây, truyền thống văn hóa hồi giáo có ảnh hưởng khá nhiều. Ví dụ như nếu như bạn đã nhập cuộc trao đổi mặc cả và người bán đồng ý với giá bạn đưa ra, bạn sẽ phải mua món đồ đó. Từ chối món hàng khi mà việc mặc cả đã ngã ngũ là một điều tối kỵ trong nền văn hóa Ai Cập. Người bán có thể cho việc từ chối đó là một điều sỉ nhục và có thể sẽ gây khó dễ cho bạn. Cá nhân tôi thấy điều này cũng đúng ở một số quốc gia hồi giáo khác như ở Marốc hay Algeria. 

 

Còn một điều nữa tôi thấy rất đáng nể ở những người bán đồ lưu niệm Ai Cập, đó là những chiêu bài chào mời khách tùy thuộc vào nền văn hóa của du khách. Khi đối diện với họ là khách Mỹ, họ sẽ tuôn ra một tràng bằng tiếng Anh với âm Mỹ chuẩn : “tôi là fan hâm mộ của Michael Jackson”. Nếu đối diện với họ là khách Trung Quốc, họ lại tuồn một tràng tiếng Trung : “Tôi khoái Mao Trạch Đông”. Còn khi rơi phải tôi? Họ hát một câu tiếng Việt : “Việt Nam Hồ Chí Minh!”. Tất nhiên là khi một người dân địa phương làm như vậy, họ gián tiếp tạo nên một sự “gần gũi” đối với du khách và khiến con mồi của họ dễ dãi hơn trong cuộc mặc cả giá sau đó. Kịch bản là kiểu “tôi hâm mộ đất nước ông, giờ ta là bạn rồi, ông cũng phải nể tôi vài phần, thôi thì mua cho tôi giá cao cao tí”. Với đòn tâm lý này, rất nhiều du khách nhẹ dạ thì sẽ phải mua với giá cắt cổ, trong đó…có tôi. 

Made in China?

 Thực ra thì một phần trong cái việc nhẹ dạ cả tin có xen lẫn sự thương hại không phải lối. Sau này, tôi mới biết là dân bán đồ ở khu chợ này ông nào chẳng nói đồ của họ là gia công 100%, rồi thì mất công vận chuyển từ sa mạc xa xôi đến đây, vân vân và vân vân. Nhưng mà ai biết được có khi đồ của họ là Made in China.

 

Ngày thứ hai trên đất Ai Cập là một ngày rất nặng về chương trình. Chúng tôi bắt đầu hành quân đến Kim Tự Tháp từ rất sớm, ngay từ 9h sáng chúng tôi đã có mặt ở đó rồi. Tôi vốn dĩ không phải là người ưa thích thăm những địa danh có quá nhiều khách du lịch đặt chân đến. Tôi đã thấy có quá nhiều địa danh rất bình thường nhưng lại thu hút cả một đống khách đến chỉ để chụp ảnh rồi lại phủi đít đi (tháp nghiêng Pisa hay kim tự tháp ở viện bảo tàng Louvre). Đặt chân đến nước Ai Cập, tôi đã biết trước mình sẽ gặp phải những đối tượng khách du lịch như vậy nhưng kim tự tháp Ai Cập thì ở một đẳng cấp khác. Không thể không đến một lần trong đời cho dù biết rằng trải nghiệm rất có thể bị làm hỏng bởi phái đoàn vài trăm nghìn người khác cũng giống như tôi, đến để chiêm ngưỡng một cái gì đó mà họ luôn nhìn thấy qua phim ảnh.  Bị gò bó vào vai trò nhạc trưởng một tour du lịch trọn gói, có lẽ chẳng còn gì để nói ngoài cảm giác bức xúc vì phải quản lí thời gian và quán xuyến người khác. Nhưng thôi, cũng không thể được voi đòi tiên khi mà tour này tôi được phái đi nên chẳng mất xu nào.  Đến với kim tự tháp lần ấy, tôi phát hiện ra rằng chúng ta có quá nhiều điều tưởng nhầm về những câu truyện xung quanh kim tự tháp, một phần nhiều la do sự thêu dệt quá hoàn hảo của phim ảnh.
 

 Sau vài ngày khám phá những điểm chính của thủ đô Cairo, đoàn khởi hành tham quan điểm nhấn chính của cả lịch trình : kim tự tháp. Chỉ cách thủ đô Cairo khoảng 15km về phía tây nhưng tôi đã có thể thấy sự khác biệt rõ rệt giữa sự sôi động của đô thị và sự cô lập của sa mạc. Ngay từ xa, dưới ánh nắng chói chang, tôi đã có thể nhìn thấy 3 chiếc kim tự tháp sừng sững. 
 
 Chỉ có điều dù ở xa hay gần thì phần lớn khách du lịch cũng chỉ có thể chiêm ngưỡng chúng từ bên ngoài chứ không được vào trong. Cái này cũng có nguyên nhân của nó. Kim tự tháp bị bão cát sói mòn rất nhiều và cần được bảo quản từ bên trong nên cần phải hạn chế số lượng người vào. Chỉ có duy nhất kim tự tháp Kheops là châm chước chấp nhận 150 du khách vào buổi sáng và 150 người khác vào buổi chiều. Theo luật của chính phủ, các nhà tổ chức tour trọn gói không được phép book vé đoàn nữa vì thế đoàn của tôi cũng chỉ có thể xem bên ngoài. 

hầu như chỉ có những du khách thăm Ai Cập theo dạng tự túc thì mới có dịp thăm bên trong kim tự tháp. Còn với các đoàn du lịch trọn gói như của tôi, chỉ có thế chiêm ngưỡng từ bên ngoài

 Tuy rằng ai ai cũng chỉ nhìn thấy 3 kim tự tháp to đùng nhưng không mấy ai để ý rằng quần thể kiến trúc ở khu cao nguyên Gizeh này là cả một khu nghĩa địa khổng lồ với nhiều công trình lớn nhỏ rất phức tạp. Ngoài 3 cái kim tự tháp nổi tiếng (Kheops, Chefren, Mycerinus) được xây để chôn cất 3 vị vua Pharaon cùng tên, đây cũng là nơi chôn cất của gia đình vua và của những gia đình quý tộc rồi thì cả một đống nhà thờ, đền, …. Chính vì thế, các chuyên gia khảo cổ thống nhất chia cao nguyên Gizeh thành 2 nhóm lăng mộ : nhóm của những « cấp trên » bao gồm kim tự tháp và lăng mộ của giới quý tộc. Nhóm thứ hai là quần thể lăng mộ dành cho dân thường hoặc những người thuộc tầng lớp xã hội thấp hơn. Có một sự khác biệt lớn về mặt cấu trúc của hai nhóm này : nhóm thứ nhất thì được cấu tạo bởi các khối đá granit lấy ra từ lòng đất, còn nhóm thứ hai thì chỉ được tạo ra nhờ việc khoan đục trực tiếp các lỗ trong lòng đất và dân thường sống ở trong các lỗ đó. 

 
 
Xung quanh quần thể kim tự tháp là một « đội quân » lạc đà hùng hậu đứng chờ khách du lịch đến để kiếm chác, cũng giống như những gì tôi đã trải qua ở Jordan, Syria hay Thổ Nhĩ Kỳ. 
 
cưỡi lạc đà và chụp pô ảnh trước kim tự tháp, một giây phút đáng đồng tiền bát gạo
 Tất nhiên là tôi chẳng ngu gì sử dụng dịch vụ này đơn giản vì giá đặc biệt cắt cổ và lạc đà thì hôi hám thôi rồi. Việc tôi đã từng cưỡi lạc đà khám phá sa mạc vài ngày ở Marốc hay Jordan khiến tôi cảm thấy việc phải trả 5$ cho việc cưỡi và chụp ảnh ở đây là quá lố bịch. 
 
 
 Kim tự tháp Kheops được xây cách đây 4500 năm và là công trình kiến trúc duy nhất còn sót lại trong số 7 kỳ quan của thế giới cổ đại.  Nói đến điểm này thì phải chi tiết hơn một chút, chính xác là chỉ có kim tự tháp Kheops thì mới được xếp hạng một trong 7 kỳ quan, không phải là cả 3. Có lẽ cũng chỉ có duy nhất kim tự tháp mới có đủ đẳng cấp để chống chọi lại sự sói mòn của thời gian, như câu thành ngữ mà người ả rập thường sử dụng : “con người sợ thời gian nhưng thời gian thì sợ kim tự tháp”.  Chẳng phải nói gì nhiều về số lượng giấy mực mà các chuyên gia phải bỏ ra để tìm hiểu những nguyên nhân bí ẩn đằng sau công nghệ xây dựng của người Ai Cập cổ đại để tạo ra quần thể lăng mộ cao 146m này. Phần lớn các giả thuyết đều cho rằng kim tự tháp được xây lên như là một lăng mộ khổng lồ dành cho vua Kheops (vì người ta tìm thấy chiếc quan tài granit trống rỗng) và để xây nó thì mất khoảng 20 năm. 
 
 
Còn làm sao mà người Ai Cập cổ đại có thể xây được một công trình kiến trúc khổng lồ với công nghệ thô sơ thời ấy thì vẫn chưa có câu trả lời thích hợp. Những giả thuyết mới đây nhất cho rằng cả 3 kim tự tháp ngoài vai trò là lăng mộ của Pharaon thì có thể có thêm những chức năng khác. Thật vậy, việc 4 góc vuông nền móng tương ứng với 4 điểm đông-tây-nam-bắc có thể là để phục vụ cho lĩnh vực thiên văn. Nhờ vào sự thay đổi bóng chiếu của kim tự tháp từ ánh mặt trời, người Ai Cập cổ có thể phỏng đoán được tương lai của mùa màng hay thiên tai lũ lụt. Mặt khác, kim tự tháp rất có thể là cầu nối tiễn đưa Pharaon bất tử đến thế giới vĩnh hằng ở bên kia. Có thể chữ “bên kia” này là nguồn gốc của một số giả thuyết cho rằng kim tự tháp có mối quan hệ với người ngoài hành tình và nó đóng vai trò như “cổng trời” để họ đổ bộ xuống trái đất. Một giả thuyết rất phù hợp để dựng các bộ phim viễn tưởng Hollywood. 
 

để ghép những khối đá như thế này, đã không biết bao nhiêu người bỏ mạng

Lại nói đến Hollywood, các bộ phim thường nói rằng kim tự tháp được xây từ bàn tay của hàng ngàn nô lệ. Ta lại nhớ lại hình ảnh những người nô lệ tội nghiệp phải vác những tảng đá khổng lồ và bị đánh đập dã man bới hội cường hào áp bá. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Những cuộc khai quật gần đây cho thấy rằng phần lớn những người đóng góp vào việc xây dựng kim tự tháp không phải nô lệ mà chủ yếu là thợ thủ công được Pharaon trả tiền.

các nhà khảo cổ tìm ra được bức tường bao bọc, đánh dấu giới hạn chính thức của quần thể kiến trúc kim tự tháp trên cao nguyên Gizeh

 Dân chúng ở những làng mạc xung quanh Gizeh hoàn toàn tự nguyện tham gia vào công trường khổng lồ này bằng cách đóng góp sức người hoặc của cải vật chất. Điều đó cho thấy rằng việc xây kim tự tháp có ý nghĩa tôn giáo tâm linh và là biểu tượng của sự đoàn kết thống nhất của dân tộc Ai Cập cổ đại, chứ không hoàn toàn là do bị vua Pharaon tàn bạo ép buộc. Tất nhiên, những điều đó chỉ đúng dưới thời của vị vua Kheops. Và rất có thể những thế hệ Pharaon tiếp theo đã có sự thay đổi về cách nhìn của người dân về việc xây kim tự tháp cũng như việc các vị vua sử dụng ngày càng nhiều nô lệ để bổ sung nhân lực cho những công trình xa hoa của họ.

không quá xa kim tự tháp là một mỏ quặng khai thác đá granit, nơi người Ai Cập đẽo gọt những tảng đá vài tấn

 Vậy người Ai Cập lấy đâu ra nguyên liệu để xây kim tự tháp ? Câu trả lời nằm ở chính nơi nó sinh ra. Nằm trên cao nguyên Gizeh, người Ai Cập đã cho khai thác một quặng đá granit khổng lồ để triết xuất ra những tảng đá nặng hàng chục tấn. Họ đào sâu xuống lòng đất tầm 30m và đẽo gọt để lôi ra những khối đá vuông thành sắc cạnh. Và để hoàn thành một ngọn núi như kim tự tháp thì phải huy động rất nhiều nhân lực, phải nuôi họ, cho họ ở, xây kho chứa dụng cụ xây dựng. Vì thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi cả một làng mạc ngay cạnh quặng đá granit được tìm thấy vùi sâu trong lòng đất. Người ta tìm thấy xương người, đồ sành sứ phục vụ cho việc ăn uống hàng ngày…

khác với khu vực kim tự tháp, vốn dĩ là lăng tẩm khổng lồ yêu cầu phải triết xuất những khối đá khổng lồ từ lòng đất, những thợ xây Ai Cập tận dụng luôn những lỗ hổng lòng đất để làm nơi tạm trú
Các nhà khảo cổ tìm được nhiều vật dụng mà người dân Ai Cạp sử dụng trong thời gian họ phục vụ cho việc xây dựng kim tự tháp.
Vì là nơi rất linh thiêng nên các nhà khảo khổ khai quật được nhiều di vật liên quan đến tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại. Ngay dưới chân kim tự tháp Kheops, người ta đào được những mảnh vỡ của một chiếc tàu được cho là biểu tượng của thế giới vĩnh hằng. Theo truyền thuyết, cứ mỗi đêm, thần mặt trời Rê trèo thuyền đến cõi chết đánh đuổi bọn quỷ dữ cho đến khi mặt trời mọc thì mới trèo thuyền quay trở lại cõi thường và bay lên trời. Việc sử dụng chiếc thuyền này để cúng tế tại kim tự tháp có ý nghĩa ẩn dụ, như thể tiễn đưa pharaon quá cố đến nới vĩnh hằng vậy. Theo phong tục, thuyền được sử dụng để chở linh cữu pharaon qua sông Nil để làm nghi lễ truy điệu. Sau đó, thuyền đưa pharaon đến kim tự tháp và tại đây, thuyền được tách ra thành từng mảnh mà chôn dưới chân kim tự tháp. Nó giống như kiểu Việt Nam mình hóa vàng mã một con thuyền bằng giấy với ý nghĩ rằng ở thế giới bên kia pharaon cũng sẽ sử dụng được chiếc thuyền đó để đi đến cõi vĩnh hằng.

ngay bên cạnh kim tự tháp Kheops, các nhà khảo cổ tìm được một hố chôn cả một con thuyền phục vụ cho tang lễ của pharaon. Nó có tên là "solar boat", mặt trời tượng trưng cho quyền lực tối cao của Pharaon

 Cái đáng nói ở cuộc khai quật này là những mảnh vỡ của tàu được làm bằng gỗ thông nhưng nhờ công nghệ bảo quản của người Ai Cập cổ đại, nó không hề bị mục ruỗng mặc dù 5000 năm đã trôi qua. Với 1224 mảnh vỡ tìm được, các chuyên gia đã thành công trong việc lắp ráp nó trở lại thành một con thuyền hoàn chỉnh. Tất cả được đặt trong một căn phòng bảo tàng đặc biệt  nằm ngay cạnh kim tự tháp Kheops. Công nghệ đóng tàu của người Ai Cập cổ đại cũng rất đáng nể. Họ không hề dùng bất cứ đinh đóng nào mà chỉ sử dụng kỹ thuật đan các tấm ván rồi lấy dây buộc với nhau.

từ những mảnh vụn, một con thuyền hoàn chỉnh được lắp ráp lại và trưng bày trong một căn phòng cách ly với cái nóng bên ngoài

Thêm một chi tiết nữa, có thể là do đây là đoàn Pháp mà tôi dẫn và cũng có thể vì người Pháp có nhiều công lao trong lĩnh vực khảo cổ Ai Cập nên khi thăm kim tự tháp ở đây tôi tìm hiểu được một câu chuyện thú vị liên quan đến một chuyên gia tên Antoine Bovis. Vào năm 1930, trong một lần thăm bên trong kim tự tháp Kheops, ông ta phát hiện ra những xác chuột chết bị héo khô nhưng lại được bảo quản rất tốt mà không hề sử dụng bất cứ hóa chất nào. Ông ta nghi ngờ rằng cách xây dựng kim tự tháp có thể là một nguyên nhân dẫn đến việc xác chết được bảo quản tốt.   Khi trở về Pháp, ông ta cũng làm thí nghiệm trong khu vườn nhà mình, cũng làm thử mô hình kim tự tháp thu nhỏ với các hướng đúng y như mô hình ở Ai Cập. Rồi ông ta thử để xác chết một con mèo vào ngay chính giữa mô hình, giống như vị trí của căn phòng chứa quan tài Pharaon. Và kết quả là xác chết mèo cũng được bảo quản tốt như vậy. Ông ta làm nhiều thí nghiệm khác và đều nhận được kết quả tương tự và thế là ông ta đưa ra một kết luận : hình dáng kiểu kim tự tháp cộng với hướng của nền móng đem lại hiệu ứng “ướp xác”.

 
Những bộ phim Hollywood về kim tự tháp có thể thổi phồng nhiều điều về sự nguy hiểm khi xâm nhập vào bên trong : axít, bẫy chông, bọ hung ăn thịt người…Nhưng có một điều đúng : mức độ an toàn dành cho nơi để quan tài pharaon. Người Ai Cập cổ đại cố tình làm cho đường dẫn vào khó khăn bằng cách cho chắn những tảng đá granit to đùng và các chỗ nối giữa tảng đá rất khít đến mức một lưỡi banh xe lam cũng khó có thể lọt qua.

để tăng cường sự an toàn cho lăng tẩm pharaon, vào thời ấy, các đường vào được bảo vệ chặt chẽ hoặc bằng lực lượng bảo vệ dày đặc hoặc bằng hệ thống cửa chặn kiên cố...
hoặc qua những con đường bí mật cách xa kim tự tháp vài trăm mét

 Tuy nhiên, có thể là do nội gián hay bằng tiểu xảo nào đó, kim tự tháp Kheops bị những kẻ ăn cắp xâm nhập vào ngay từ thế kỷ 20 trước công nguyên. Những nhà khảo cổ học thế kỷ 19 đã đến quá muộn khi xâm nhập được vào phòng để quan tài Pharaon, tất cả đã biến mất ngoài chiếc vỏ quan tài đã bị mở. Không những bị mất cắp của cải, kể cả những tảng đá kim tự tháp cũng bị lấy đi phục vụ cho việc xay dựng các công trình kiến trúc cổ ở thủ đô Cairo. Phải chờ đến đầu thế kỷ 20 khi mà phong trào bảo tồn di sản quốc gia nổi lên thì chính phủ Ai Cập mới nghiêm cấm nạn lấy cắp vật liệu xây dựng trái phép từ cao nguyên Gizeh.

xưa kia, các con đường chính dẫn đến kim tự tháp đều có mái lợp và tường phủ hai bên. Trên bề mặt tường được điêu khắc rất phong phú. Tuy nhiên, tất cả đã bị phá hủy và ngày nay chỉ còn trơ trọi những nẻo đường mòn ngổn ngang đá vụn
Ngay phía trước kim tự tháp án ngữ tượng nhân sư. Trái với những gì người ta tưởng tượng, tượng nhân sư không phải  được tạc tự một khối đá mà là một tác phẩm điêu khắc trực tiếp từ một tảng đá granit khổng lồ. Tảng đá này xưa kia nằm giữa một quặng đá mà người Ai Cập khai thác phục vụ cho việc xây kim tự tháp.

Thân và đầu tượng nhân sư là do điêu khắc trên đá tạo ra, còn phần tứ chi được tạo ra từ các khối đá độc lập rồi người ta mới gắn vào thân. Theo như những gì chuyên gia tìm được dựa trên vết tích trên bề mặt, rất có thể tượng này được phủ 100% bằng một lớp thạch cao có trộn màu : mặt và thân màu đỏ còn vành mai rắn hổ mang màu vàng và xanh nước biển. Nhưng theo dòng thời gian với sự hủy hoại của gió và cát cộng thêm những đợt công phá bằng đại bác của quân ngoại xâm, lớp vỏ bọc này biến mất hoàn toàn. 

ngay từ khi máy ảnh được phát minh vào cuối thế kỷ 19, các nhà khảo cổ đã cho chụp lại kim tự tháp. Tư liệu cho thấy tượng nhân sư bị trôn vùi khá sâu trong lòng đất
vài thập kỷ sau đó, có thể thấy công trường khai quật có tiến triển đáng kể khi thân tượng nhân sư được hiện ra một phần

 Hàng năm, chính phủ Ai Cập phải huy động một lực lượng nhân công thường trực với nhiệm vụ quét bớt một phần lớp cát phủ lên sau mỗi một đợt bão cát từ sa mạc đổ tới. Còn về cái mũi và cái râu cằm bị mất, trước kia người ta đổ tội cho quân thực dân Anh hoặc quân Napoléon (thế kỷ 19). Tuy nhiên, theo một bức họa vào thế kỷ 18, tượng nhân sự đã bị mất cả mũi và râu rồi.

trong một thời gian dài, người ta vẫn đổ lỗi cho những nòng súng thần công của Napoléon cuối thể kỷ 18 

Với công nghệ khoa học tiên tiến, kẻ phạm tồi này đã được định dạng : một tên quận chúa Ai Cập thế kỷ 14. Hiện nay, chiêc râu đã được tìm thấy và trưng bày ở viện bảo tàng British Museum ở London (người Anh từ chối trao trả lại cho Ai Cập), còn cái mũi thì vĩnh viễn không tìm thấy. 

Nếu như bạn hỏi các du khách cảm nhận của họ như thế nào sau khi được tận mắt chứng kiến một trong những 7 kỳ quan tuyệt đỉnh nhất thế giới cổ đại, chắc chắn tỉ lệ số người thất vọng sẽ không cao. Có thể kim tự tháp trên thực tế không đẹp đẽ như những lời văn thêu dệt của báo chí hay phim ảnh, nhưng chỉ đứng trước nó và ngắm nhìn thôi cũng đã là một cảm giác khó tả. Chuyến viếng thăm của tôi không quá lâu, chỉ với 3 tiếng đồng hồ nhưng tôi nghĩ đó cũng đã là một khoảnh khắc đủ để có được cảm nhận đầu tiên về Ai Cập cổ đại, một nền văn minh mà tôi còn có dịp tìm hiểu sâu hơn rất nhiều qua chuyến đi du lịch bụi thứ hai vào năm 2011. 
 
Chào tạm biệt kim tự tháp, chúng tôi quay trở lại thủ đô Cairo và tìm hiều một khía cạnh khác của thành phố, một khía cạnh mà không phải bất cứ khách du lịch nào cũng muốn khám phá : khu phố ổ chuột Mokhattam, với biệt danh “thành phố rác thải”. Nghe ghê tởm quá phải không? Nếu một  khách du lịch chỉ đến Ai Cập để hùng hục thăm những thắng cảnh nổi tiếng nhất quốc gia, chắc hẳn họ sẽ nghĩ trong đầu rằng phải thần kinh có vấn đề thì mới dỗi hơi bỏ cả một buổi chiều đến thăm một nơi xấu xí, bẩn thỉu . 

  Người ta du lịch để thăm cái đẹp chứ ai lại tôn vinh cái xấu làm gì. Đúng vậy, thế nên chúng tôi xác định đến Mokhattam không phải để thăm danh lam thắng cảnh mà là để tìm hiểu cuộc sống và gặp gỡ một cộng đồng thiên chúa giáo chiếm phần đông ở khu phố này (dù gì thì tôn giáo cũng là chủ đề chính xuyên suốt hành trình 8 ngày trên đất Ai Cập). Cộng đồng này bị gán cho cái tên Zabbaleen, trong tiếng ả rập có nghĩa là “người hót rác”. Tất cả bắt đầu từ những năm 1950 khi mà những người Ai Cập thiên chúa giáo này di cư từ miền nam Ai Cập đến thủ đô để kiếm việc. Tôn giáo như một vết nhơ trong hồ sơ, họ không kiếm nổi một việc làm tử tế ở trung tâm và buộc phải kiếm công việc tái chế rác thải tại Mokhattam. 

Ngày nay, 40.000 người dân theo đạo công giáo của Mokhattam sống chủ yếu nhờ việc tái chế rác. Văn hóa thải rác của người Ai Cập khá giống người Việt chúng ta, nghĩa là cứ tống đủ các loại rác vào một cái túi ni lông to. Trong đó thì cái gì cũng có : hộp các tông, giấy má, thức ăn thừa, chai lọ… Có một điều khác ở thủ đô Cairo là người ta không có mấy cô lao công đi kẻng giác. Mỗi một căn hộ chung cư đều có một nhân viên trông coi nhận nhiệm vụ quản  lý vườn tược, dọn dẹp lối đi chung và thu nhận các túi rác mà các hộ gia đình để trước cửa. 

  Họ thu hồi rác, lục lọi để xem có “chiến lợi phẩm” nào có thể sử dụng được rồi sau đó chuyển tất cả rác thải ra ngoài đường chính. Một chiếc xe tải to đùng sẽ đến từng khu phố hốt hết số rác đó và chuyển tất cả đến Mokhattam nơi xử lý rác thải của toàn thành phố. 

 Đến với Mokhattam, bạn sẽ thấy người dân nơi đây tổ chức phân chia rác thải chuyên nghiệp như thế nào, mặc dù họ chỉ là những người dân lao động không có bất cứ chỉ huy nào từ phía chính quyền địa phương. Khu phố được chia làm nhiều khu tổ hợp tái chế rác khác nhau và các hộ gia đình có khuynh hướng chỉ làm việc tại một tổ hợp nhất định.  Nếu nhìn từ tầng thượng của một tòa nhà, bạn sẽ có cảm giác như lạc vào thế giới của ngày tận thế với những ngôi nhà 5 tầng xuống cấp và chỉ được xây bằng gạch cốt thép chưa được sơn bả đến nơi đến chốn. Nhà nhà đều chật ních rác. Có vẻ như rác là người bạn đồng hành với các hộ gia đình. Sống chung với rác, chắc hẳn 100% dân ở đây đều gặp các vấn đề về đường hô hấp

 Khu phố Mokhattam là sự tương phản giữa cuộc sống đời thường của người dân (bản thỉu) và khu vực hành đạo (rất sạch sẽ). Ẩn nấp đằng sau những đống rác thải hôi hám bẩn thỉu này, nằm trên đỉnh núi là một công trình kiến trúc mà không mấy ai nghĩ đến : nhà thờ Saint Samaan nằm sâu trong hẻm đá. Đây là nơi mà gần 20.000 tín đồ sùng đạo thường lui tới để cùng cầu nguyện và tỏ lòng kính chúa. 

  Lý do tại sao phải xây nhà thờ chui lủi trong hẻm đá thì khá rõ : cộng đồng thiên chúa giáo chưa bao giờ được đón chào nồng nhiệt trong một quốc gia Hồi giáo. Người thiên chúa giáo Ai Cập (hay còn gọi là người Coptic) không bao giờ dám công khai tôn giáo của họ. Tại đây, mỗi đứa trẻ sinh ra nếu như được rửa tội theo nghi lễ thiên chúa giáo thì mục sư thường khắc xăm một hình dấu cộng vào mặt cổ tay trong để chứng nhận đứa trẻ đó sẽ theo công giáo trong tương lai. Có thể một người theo đạo thiên chúa giáo Ai Cập không cho bạn đến nhà chơi, không đeo vòng cổ thánh giá nhưng nếu như bạn bắt tay và bắt gặp dấu xăm thánh giá trên cổ tay thì bạn có thể chắc chắn rằng anh ta theo đạo công giáo.

 Quay trở lại với nhà thờ aint Samaan, mặc dù chỉ được xây lên vào năm 1974, lịch sử phát triển của khu vực này lâu hơn thế rất nhiều. Truyền thuyết kể lại rằng vào thế kỷ thứ 10 sau công nguyên, vua Ai Cập triệu tập các tôn giáo tồn tại trong quốc gia đến để trao đổi giao lưu về tôn giáo. Trong số đó có thiên chúa giáo và đạo do thái. Hai đạo này cãi nhau như chó với mèo. Các người đứng đầu đạo do thái thách thức người thiên chúa giáo rằng nếu chúa của họ thực sự tồn tại thì hãy phù phép để di chuyển ngọn núi ngự trị trên khu phố Mokhattam, còn nếu không thì tất cả tín đồ thiên chúa giáo trên lãnh thổ quốc gia sẽ bị xử trảm. 

truyền thuyết về phép màu của thánh Saint Simaan được tái hiện qua tác phẩm điêu khắc trên bề mặt đá

 Trong một giấc mơ, giáo chủ thiên chúa giáo được đức mẹ đồng trinh Maria báo mộng rằng cần phải gặp một người chột mắt tên Simaan nhờ ông ta phù phép thì sẽ thành công. Tỉnh dậy, người đàn ông mang tên Simaan được thỉnh cầu và đúng như lời báo mộng đã phù phép di chuyển cả ngọn núi Mokhattam. Tâm phục khẩu phục, vua Ai Cập cho hủy lệnh truy tố cộng đồng thiên chúa giáo. Để tưởng niệm sự kiện này, một nhà thờ được xây lên đẻ tỏ lòng cảm ơn vị thánh Saint Simaan. 

Sau những buổi tái chế rác thải, người dân sùng đạo lại đến nhà thờ cùng nhau cầu nguyện để tỏ lòng sùng kính chúa Jesus

 Trời xẩm tối cũng là lúc chúng tôi rời khu phố Mokhattam quay trở về trung tâm phố cổ Cairo để tham dự buổi biểu diễn văn nghệ truyền thống được tổ chức miễn phí bởi đoàn văn nghệ Al Tannoura. Trong vòng khoảng hơn 1 tiếng , chúng tôi được tận hưởng những giây phút chóng mặt bởi điệu nhảy Sufi Dance. Diễn ra trong khuôn viên cung điện Wikalat Al Ghouri, chương trình biểu diễn điệu nhảy Sufi Dance là một trong những trải nhiệm thú vị nhất cho bất cứ du khách nào đến thủ đô. Ai Cập không chỉ có điệu múa bụng belly dance mà còn có cả món này nữa. Điều đặc biệt là Sufi Dance hoàn toàn miễn phí và chỉ có 2 lần 1 tuần. Thế nên vào mùa cao điểm, không quá ngạc nhiên khi tất cả các chỗ ngồi đều bị các hãng lữ hành tậu hết vé cho các đoàn khách du lịch của họ. Một số vị khách lẻ may mắn lắm thì dành được vài tấm vé những cũng phải xếp hàng dài dằng dặc trưởng cổng vào thì mới mua được. Show diễn chỉ bắt đầu từ 8h tối nhưng ngay từ 7h đã có những nhóm khách tranh thủ đến trước để xí những chỗ ngồi ngon nhất.

 Khác với điệu múa bụng lừng danh, điệu nhảy Sufi Dance ít nhiều có yếu tố tâm linh bởi trước kia điệu nhảy này là một phần trong nghi lễ Hồi giáo ở Trung Đông. Điều đó đồng nghĩa với việc điệu nhảy Sufi Dance không chỉ có ở Ai Cập mà còn có ở một số quốc gia Hồi giáo khác nữa. Sau này khi đi phượt sang Thổ Nhĩ Kỳ, tôi mới biết ở đó cũng có Sufi Dance nhưng tôi không có dịp xem. Tại Ai Cập, điệu múa Sufi Dance còn có tên gọi khác là tannoura, tên của loại áo dài mà các vũ công nam sử dụng trong khi biểu diễn. Còn các vũ công có tên gọi là darvesh, trong tiếng ả rập có nghĩa là “vũ công quay tít thò lò”

 Theo truyền thống, những bước nhảy của Sufi Dance có nhiều hàm ý tôn giáo. Trong đội nhảy bao giờ cũng có một người ở chính giữa biểu tượng cho mặt trời và các người khác ghép thành hình tròn bây quanh biểu tượng cho chòm sao của hệ thái dương. Từ cách ăn mặc cho đến điệu nhạc, tất cả ít hay nhiều đều có những thông điệp ẩn dụ liên quan đến đạo Hồi. Các vũ công ban đầu ăn mặc toàn màu trắng, dần dần họ để lộ ra những xiêm y màu sắc sặc sỡ và cuối cùng họ lại để hiện ra bộ màu trắng ban đầu. 

 Hàm ý của việc bắt đầu bằng màu trắng và kết thúc bằng màu trắng giống như thuyết luân hồi của một đời người : người ta sinh ra từ số không và chết đi cũng sẽ quay lại số không để rồi bắt đầu một kiếp mới cũng bằng số không. Các vũ công mặc tổng cộng 4 lớp váy màu sắc khác biệt chồng chất lên nhau, tượng trưng cho 4 mùa trong năm. Trong quá trình nhảy, họ cởi bỏ dần 4 lớp váy này, tượng trưng cho sự chuyển giao từ mùa này sang mùa khác, cũng như một đời người phải trải qua 4 quá trình sinh lão bệnh tử.  

 Điểm đặc biệt của điệu nhảy Sufi Dance là việc các vũ công quay tít thò lò, khiến cho  các tà áo trên người quay theo tạo nên những hình tròn đa sắc, trong rất lộng lẫy. Người ta nói rằng để chuẩn bị cho điệu nhảy này, các vũ công phải mặc trên mình những bộ áo nặng tới 10kg, trong khi thời tiết ở Ai Cập thì lúc nào cũng nóng trên 30 độ! 

 Họ quay tốc độ nhanh đến chóng mặt trong vòng hơn 40 phút. Ấy thế mà sau đó mặt họ tỉnh bơ, không biểu hiện bất cứ một nét mặt nào cho thấy họ bị lao đao chóng mặt cả. Đúng là tài thật. Khi mà buổi biểu diễn kết thúc, rất nhiều du khách đi đứng chệnh choạng vì bị “lây” cảm giác chóng mặt từ các vũ công. Tôi đêm ấy, tôi ngủ thật là ngon sau khi trải qua một ngày kín lịch.